Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2005 1. Cơ sở hình thành chủ trƣơng phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1997-2005) 1. Chủ trương của Đảng trong sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông (1997-2005) * Một số vấn đề về giáo dục và giáo dục phổ thông Một số vấn đề về giáo dục Về khái niệm giáo dục có thể hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nhìn chung có thể hiểu “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà loài người không ngừng tiến lên” [72, tr.
Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Điều này dễ nhận thấy trong xã hội hiện đại, khi mà các quốc gia đang đua tranh về kinh tế, đua tranh về khoa học và công nghệ, về trí tuệ của con người. Giáo dục hiện đại giúp các quốc gia giành thắng lợi trong cuộc đua tranh đó. Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu, được thể hiện trong chiến lược phát triển đất nước, trong chính sách của các quốc gia.
Giáo dục có hai chức năng quan trọng là chức năng văn hóa – xã hội và chức năng kinh tế. Chức năng văn hóa – xã hội của giáo dục được thể hiện ở các mặt: nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục tư tưởng chính trị. Chức năng nâng cao dân trí: giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ, quá trình này giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở mang trí tuệ, hình thành văn hóa, đạo đức, giúp xã hội bảo tồn và phát triển nền văn hóa của mình. Giáo dục được thực hiện bằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học và đào tạo.
Quá trình dạy học và đào tạo cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hóa mà mục đích cuối cùng là làm cho mỗi con người trở thành người lao động tự chủ, năng động, thông minh và sáng tạo. Như vậy giáo dục thực hiện chức năng nâng cao dân trí xã hội. Một quốc gia giàu mạnh là một quốc gia có trình độ dân trí cao với một nền giáo dục giàu mạnh, thỏa mãn được nhu cầu học tập của người dân. Mục tiêu chiến lược phát triển của Việt Nam là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một trong những giải pháp để đạt được mục tiêu đó là nâng cao dân trí.
Muốn vậy, phải xây dựng một hệ thống giáo dục mạnh từ Mầm non cho đến Đại học, bằng mọi hình thức đào tạo: dân lập, bán công, quốc lập, tư thục, chính quy, tại chức, ngắn hạn, dài hạn…. để mỗi công dân được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ học tập của mình. Chức năng bồi dưỡng nhân tài: Nhân tài là những nhân vật xuất chúng có năng lực trí tuệ đặc biệt, thể hiện ở khả năng trực giác và suy luận cao, có tầm nhìn xa, trông rộng và khả năng phát hiện và giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả những vấn đề mà họ gặp phải trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, chính trị, xã hội và quân sự….Nhân tài là tài sản quý của mỗi quốc gia. Trong chiến lược bồi dưỡng nhân tài, giáo dục đóng một vai trò quan trọng.
Nhà trường có nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng nhân tài bằng quá trình huấn luyện công phu, với những phương pháp giáo dục tiên tiến nhằm bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trở thành những người tài năng, phục vụ nhiều nhất cho đất nước. Chức năng giáo dục tư tưởng chính trị: Giáo dục làm cho xã hội trở nên thuần nhất, công bằng, văn minh. Bản thân khái niệm giáo dục đã bao hàm tính mục đích rõ nét. Bằng nội dung giáo dục được chọn lọc, với cả một hệ thống tổ chức và phương pháp luận hiện đại, giáo dục hướng dẫn các thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ, hướng dẫn cả xã hội đi tới một nền văn minh.
Giáo dục làm cho mỗi con người trở thành công dân có ích cho xã hội. Chức năng kinh tế của giáo dục thể hiện đầy đủ nhất trong đào tạo nhân lực. Một đất nước muốn phát triển phải có đủ nhân lực và nhân lực phải có đủ trình độ kỹ thuật cao. Nhân lực xã hội là toàn bộ công nhân, viên chức, những người lao động đang làm việc trong tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội đảm bảo cho xã hội vận động và phát triển.
Giáo dục tham gia vào đào tạo nhân lực chính là tái sản xuất sức lao động xã hội, là tạo ra lực lượng trực tiếp sản xuất và quản lý xã hội. Giáo dục phát triển tiềm năng trí tuệ và khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ là tiềm năng của mọi tiềm năng, là tài sản quý nhất của thời đại. Đào tạo nhân lực chính là thực hiện chức năng kinh tế của giáo dục.
Với các chức năng trên, ngày nay giáo dục được nhìn nhận như là một trong những con đường quan trọng nhất để phát triển xã hội. Giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia. Vì vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, loại đầu tư thông minh nhất trong mọi loại đầu tư các quốc gia trong thế giới hiện đại. Triển vọng và năng lực của một nền kinh tế hiện đại phụ thuộc vào việc đầu tư, tích lũy kiến thức và kỹ năng hoạt động sáng tạo cho người lao động.
Giáo dục và đào tạo đóng góp tích cực vào quá trình tạo ra nguồn nhân lực đó. Các con đường giáo dục: Giáo dục là quá trình tác động để hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng nhiều con đường như giáo dục thông qua dạy học, giáo dục thông qua tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng, giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể, tự tu dưỡng… Trong đó, một trong những con đường quan trọng nhất để giáo dục thế hệ trẻ là đưa học sinh vào học tập trong nhà trường. Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo thực hiện. Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một tập thể học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng.
Dạy học là con đường giáo dục chủ động, ngắn nhất và có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời. Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (gọi tắt theo tiếng Anh là UNESCO) đã nêu lên bốn trụ cột của giáo dục là: học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống. Đó là những điều UNESCO nói với tất cả các dân tộc trên thế giới.
Với bốn nguyên tắc trên, trong thế giới hiện đại, việc học suốt đời gắn liền với xã hội học tập nhằm tạo ra những cơ hội học tập và làm giàu tiềm năng của mỗi người. Tháng 3 và tháng 4 năm 1998, hội nghị UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương về vấn đề “Giáo dục cho thế kỷ XXI ở châu Á – Thái Bình Dương” đã khẳng định lại quan điểm: Học tập: Kho báu tiềm ẩn. Hội nghị cho rằng hãy tiếp tục học để biết, học để làm, học để sống cùng nhau và học để tồn tại. Đó là con đường của giáo dục bước vào thế kỷ XXI.
Một số vấn đề về giáo dục phổ thông Ở nước ta, Cách mạng tháng Tám thành công và sự thành lập nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945 đã đặt nền tảng cho sự ra đời nền giáo dục mới – nền giáo dục cách mạng. Chính quyền cách mạng dù bận trăm công nghìn việc đối nội, đối ngoại, vẫn quan tâm việc tiến hành một chương trình cải cách giáo dục triệt để thay thế giáo dục nô dịch thực dân. Hội đồng Cố vấn học chính được thành lập ngay tháng 10-1945 để lo liệu công việc này. Tuy nhiên, do ngay từ tháng 9-1945 ở miền Nam và từ tháng 12 -1946 trên toàn quốc nổ ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên đến tháng 7-1950, Hội đồng Chính phủ mới thông qua đề án cải cách giáo dục và thực hiện đề án này một cách có hệ thống.
Trong đợt cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950: thay hệ thống giáo dục do thực dân Pháp để lại bằng chế độ giáo dục Dân chủ Cộng hòa (giáo dục phổ thông 9 năm). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cơ cấu hệ thống giáo dục mới này, hệ thống giáo dục phổ thông gồm 3 cấp học: Cấp I: 4 năm (lớp 1, 2, 3 và 4) thay thế cho bậc tiểu học cũ (không kể một năm học lớp ấu trĩ hay vỡ lòng). Cấp II: 3 năm (lớp 5, 6 và 7) thay thế cho bậc trung học phổ thông cũ 4 năm. Cấp III: 2 năm (lớp 8 và 9) thay thế cho bậc trung học chuyên khoa cũ 3 năm.
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đặt cơ sở cho việc thành lập hệ thống giáo dục quốc dân theo tính chất giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định 10 năm gồm 3 cấp học: Cấp I: 4 năm; Cấp II: 3 năm; Cấp III: 3 năm. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (năm 1979) – xây dựng và phát triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Giáo dục phổ thông được chia thành hai bậc: phổ thông cơ sở và phổ thông trung học.
Trường phổ thông cơ sở là một thể thống nhất từ lớp 1 đến lớp 9, đó là bậc học sẽ tiến tới phổ cập bắt buộc cho tất cả thiếu niên từ 6 -15 tuổi. Trường phổ thông trung học, từ lớp 10 đến lớp 12. Với cuộc Cải cách giáo dục lần thứ 3, từ năm học 1981- 1982, hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được thống nhất trong cả nước.