Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với giáo dục phổ thông từ năm 1954 đến năm 1960 Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với giáo dục phổ thông từ năm 1961 đến năm 1967 Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960 1. Căn cứ xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh 1. Căn cứ xác định chủ trương 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa - lịch sử của tỉnh Hưng Yên Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm Châu thổ Sông Hồng, được thành lập từ năm 1831 dưới thời Minh Mạng.
Dân cư ở Hưng Yên hầu hết là người Kinh, số đông theo đạo Phật thờ cúng tổ tiên, một số ít theo đạo Thiên Chúa, phân bố rải rác, không tập trung. Địa hình không có núi, đồi, nghiêng chênh chếch từ tây bắc xuống đông nam với các vùng đất cao, thấp xen kẽ nhau. Hưng Yên được bao bọc bởi sông Hồng và sông Luộc nên nguồn nước ngọt rất dồi dào, nguồn nước mặt phong phú, có những túi nước ngầm với dung tích lớn không chỉ cung cấp nước cho nhu cầu trong tỉnh mà còn có thể cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận. Giao thông thủy, bộ của Hưng Yên rất thuận lợi… đó là tiềm năng lớn để Hưng Yên phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh.
Hưng Yên cũng là một vùng đất có lịch sử lâu đời, ngay từ buổi đầu lịch sử thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất Hưng Yên đã có sự cư trú của con người, là nơi phát hiện ra các di chỉ khảo cổ học, các di tích như mộ cũi ở An Viên (huyện Tiên Lữ), mộ thuyền tại Đống Lương (huyện Kim Động), cùng truyền thuyết về Chử Đồng Tử - Tiên Dung… Hưng Yên có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử. Hưng Yên còn là mảnh đất có truyền thống văn hiến, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, các nhà văn hóa lớn. Nhiều tên đất, tên làng đã đi vào sử sách như: Đầm Dạ Trạch, Bãi Sậy, Hàm Tử Quan, Phố Hiến. Hưng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Yên là quê hương của nhiều nhà văn hóa, đại khoa, tướng tài của đất nước như Lê Như Hổ, Chu Mạnh Trinh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Đoàn Thị Điểm, Hoàng Hoa Thám, Phạm Ngũ Lão.
Thiên nhiên và văn hóa Hưng Yên đều thấm đượm màu sắc lịch sử. Cuối thế kỷ XIX, hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp. Hưng Yên đã trở thành một trung tâm kháng chiến lớn với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Nhiều sĩ phu yêu nước như Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Dương, Nguyện Thiện Kế… đã đứng lên lãnh đạo nhân dân chống giặc.
Tháng 7/1941, Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Hưng Yên được thành lập. Ngày 22/8/1945, nhân dân Hưng Yên đã nổi dậy khởi nghĩa phá tan xiềng xích của chế độ thực dân, phong kiến. Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Hưng Yên bước vào kỷ nguyên của độc lập và tự do. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Hưng Yên là vùng đất tự do.
Chính vì vậy, Hưng Yên là nơi có điều kiện để cung cấp sức người, sức của đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến. Tháng 7/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng.
Cùng với các tỉnh miền Bắc, Hưng Yên bước vào thời kỳ mới: thời kỳ khôi phục, cải tạo và xây dựng XHCN, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài dựng nước - giữ nước của dân tộc, từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhân dân Hưng Yên luôn thể hiện một sức sống mãnh liệt, không ngừng vươn lên trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chống áp bức, cường quyền. Trong suốt cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhân dân Hưng Yên đã xây đắp lên truyền thống, những đức tính quý báu, trong đó có truyền thống hiếu học. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Giáo dục phổ thông của tỉnh Hưng Yên trước năm 1954 Trong 845 năm nền giáo dục và khoa cử phong kiến (1075 - 1919), Hưng Yên khẳng định truyền thống hiếu học và khoa bảng tương đối rõ nét. Một trong những đặc điểm nổi bật của truyền thống hiếu học và khoa bảng của Hưng Yên là sự hình thành các gia đình, dòng họ khoa bảng. Việc hình thành các gia đình và dòng họ khoa bảng tạo tiền đề cho sự hình thành các làng khoa bảng. Các làng khoa bảng ở Hưng Yên là những ngôi sao sáng trên bầu trời giáo dục Việt Nam thời quân chủ.
Cùng với gia đình, dòng họ, làng xã cũng tiếp sức cho các sĩ tử học hành với các quy định khuyến học như miễn phu dịch, cấp ruộng “học điền” [85, tr. 15], đón rước về làng và ban cho quyền lợi về ngôi thứ, ruộng đất sau khi đỗ đạt. Song điều quyết định nhất là những người đi học đã nêu cao tinh thần vượt khó khăn, kiên trì học tập. Năm 1858, Pháp xâm lược Việt Nam.
Pháp vẫn giữ nguyên nền giáo dục phong kiến nho học được hình thành từ Trung ương đến các tỉnh, mãi đến năm 1917, mới ban hành bộ luật đầu tiên về giáo dục. Nét nổi bật của giáo dục Hưng Yên thời Pháp thuộc là sự hạn chế đối với nền giáo dục quốc dân. Nhìn chung, giáo dục Hưng Yên trước cách mạng, dù có nhiều khởi sắc dưới thời phong kiến chỉ là nền giáo dục của một bộ phận, của những cá nhân. Phải từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, một nền giáo dục mới được xây dựng trên cơ sở khơi dậy và phát huy truyền thống giáo dục vốn có cùng với những yếu tố mới do cách mạng mang lại.
Đó là nền giáo dục dân tộc - dân chủ, nền giáo dục do dân, vì dân. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với cả nước, nhân dân Hưng Yên hăng hái xông ra mặt trận diệt “giặc dốt”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào Bình dân học vụ đã thực sự trở thành một phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân Chiến dịch chống nạn mù chữ được tiến 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào các ngõ xóm, mọi làng xã của tỉnh. Từ tháng 11/1945 đến tháng 12/1945, Bình dân học vụ của tỉnh Hưng Yên đã động viên được hàng chục vạn người đi học thuộc đủ đối tượng già trẻ, gái trai giàu nghèo không phân biệt tôn giáo, nô nức đua nhau đi học.
Hàng vạn người đua nhau dạy Bình dân học vụ, tham gia bảo trợ viên Bình dân học vụ, giúp đỡ giấy bút, tiền của sức lực, cơ sở vật chất cho phong trào Bình dân học vụ. Kết quả sau một năm, từ tháng 11/1945 đến tháng 11/1946 công tác Bình dân học vụ của tỉnh Hưng Yên đã xóa mù chữ được 26.700 người [85, tr. Cùng với Bình dân học vụ, GDPT cũng được chú ý, các trường tiểu học trong toàn tỉnh được ổn định. Ngành giáo dục phát lệnh chiêu sinh trở lại để chuẩn bị cho năm học mới.
Ngày 01/10/1945, các trường cả trường quốc lập, dân lập, tư thục trong tỉnh cùng các trường trên toàn quốc khai giảng năm 1945 - 1946. Tại Hưng Yên sau nhiều tháng nhiều trường học phải đóng cửa, Cách mạng tháng Tám thành công, học sinh lại được cắp sách tới trường đem lại một niềm vui lớn cho toàn dân. Năm học mới chưa có chương trình nên dạy theo chương trình thời đó gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn - có điều chỉnh theo hướng dân tộc - khoa học - đại chúng. Chương trình Hoàng Xuân Hãn được áp dụng cho tất cả các trường ở vùng kháng chiến cho mãi đến năm 1950 cải cách giáo dục lần thứ nhất mới có chương trình mới.
Thực hiện chủ trương của tỉnh, mỗi làng mở từ 1 đến 3 lớp ở bậc tiểu học. Mỗi xã mở một trường tiểu học hoàn chỉnh (lớp năm, lớp tư, lớp ba, lớp nhì, lớp nhất). Tại huyện lỵ, trường tiểu học thời Pháp vẫn được duy trì. Như vậy, thời thuộc Pháp mỗi huyện chỉ có một trường tiểu học.
Sau Cách mạng tháng Tám mỗi xã có một trường tiểu học, tăng gấp 15 lần. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước Cách mạng tháng Tám, Hưng Yên chưa có một trường trung học nào. Đầu năm 1945, Trường Cao đẳng tiểu học Đỗ Hữu Vị ở Hà Nội và Trường Nữ sinh Đồng Khánh cũng ở Hà Nội sơ tán về thị xã Hưng Yên. Cách mạng tháng Tám thành công hai trường này tiếp tục ở lại thị xã Hưng Yên.
Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ, giáo dục phải chuyển hướng vào thời chiến, các trường lớp phải tản cư về nông thôn, vào vùng sâu, tiếp tục hoạt động với nhiều hình thức tổ chức đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến, kiến quốc. Từ đó các cơ quan quản lí giáo dục ở tỉnh, ở huyện, các trường học ở thị xã, thị trấn sơ tán về nông thôn, vùng căn cứ. Chính trong quá trình chiến đấu gian khổ và ác liệt đó, công tác giáo dục đã không ngừng phát triển, phục vụ kịp thời và đắc lực cho nhu cầu ngày càng cao của kháng chiến. Đến cuối năm 1946 quân Pháp đánh chiếm một số khu vực phía Bắc Hưng Yên, các trường học trong vùng này bị gián đoạn, học sinh theo cha mẹ đi tản cư, sự nghiệp giáo dục của tỉnh gặp nhiều khó khăn.
Ngày 20/12/1946, thực hiện chỉ đạo của cấp trên, thị xã Hưng Yên thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến. Ngày 22/12/1946 hai trường cao đẳng Tiểu học Đỗ Hữu Vi và Trường Nữ sinh Đồng Khánh đóng cửa. Đến tháng 4/1947 tản cư về đóng tại Đan Tràng và Bình Lăng, Thổ Cầu (Nam Ân Thi). Trường Cao đẳng tiểu học đổi tên là trường Trung học Nguyễn Thiện Thuật.
Đây là trường trung học công lập đầu tiên của tỉnh. Việc thành lập trường trung học đầu tiên có ý nghĩa lớn lao. Trường trung học là nền tảng của sự phát triển giáo dục sau này. Năm học đầu tiên có 2 lớp đệ nhất, 7 thầy cô với 100 học sinh.
Chương trình giảng dạy cho học sinh dựa theo chương trình của Pháp do giáo viên tự biên dịch. Vở viết là giấy cũ ngâm nước vôi phơi khô dùng lại. Năm học 1947 - 1948, trường đã có 2 lớp đệ nhất, 2 lớp đệ nhị với 198 học sinh và 10 thầy, cô [85, tr. Năm học 1948 - 1949 trường đã có 3 lớp đệ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.