Chương 1 QUAN NIỆM VỀ XểA ĐểI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIấN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN NGA SƠN (TỈNH THANH HểA) 1. Quan niệm về đúi nghốo và chủ trương của Đảng về xúa đúi, giảm nghèo 1. Quan niệm về đúi nghốo Đúi nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Cho đến nay, đúi nghốo vẫn là nỗi ám ảnh đối với các quốc gia trên thế giới.
Loài người chúng ta đã chứng kiến những thảm họa của các cuộc chiến tranh tàn sát, thiên tai, dịch bệnh và những hậu quả do nạn đói gây ra vô cùng khủng khiếp. Nó cướp đi nhiều sinh mạng, làm cho hàng triệu người không được hưởng thụ những thành quả của nền văn minh tiến bộ mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái. Vấn đề đúi nghốo nếu không được giải quyết thỡ khụng một mục tiêu nào của thế giới cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, ổn định hòa bình, công bằng, bình đẳng, bảo đảm các quyền con người được thực hiện. Rõ ràng, vấn đề xúa đúi, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu phải được quan tâm, chú ý và giải quyết.
Khái niệm đúi nghốo có thể tách ra, phân tích và nhận dạng giữa đói và nghèo: Đói là một khái niệm thường được nhận diện ở 2 dạng: thiếu đói và đói gay gắt. Thiếu đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo mức lương thực bữa đói, bữa no và có những khi phải đứt bữa từ một, hai hoặc ba tháng. Đói gay gắt là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu, đói ăn, đứt bữa, đang phải sống trong một tình trạng hết sức khó khăn. Chúng ta thấy khái niệm này vẫn thuần túy là đói ăn thuộc phạm trù kinh tế - xã hội.
Nó khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa. 17 Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống của cộng đồng xột trờn mọi phương diện: ăn, mặc, ở, vệ sinh, giáo dục, y tế và nhiều nhu cầu khác. Theo cách hiểu khỏc: Nghốo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghốo cũn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Nghèo chia thành nhiều mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghốo cú nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại… Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghốo cú mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xột. Nghốo cú nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Trên đây là những khái niệm chung nhất, phương pháp đánh giá, nhận diện nét chủ yếu, phổ biến về nghèo đói.
Trọng tâm của vấn đề là nhu cầu của con người. Tuy vậy, trong khái niệm chưa thể hiện rõ chuẩn mực đánh giá về mặt định lượng, chưa tính đến sự khác biệt, chênh lệch giữa cỏc vựng lãnh thổ, quốc gia, các điều kiện cụ thể. Sự phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế làm tăng thêm nhu cầu của đời sống con người, tạo ra những biến đổi của xã hội. Do đó, khái niệm về “nghốo” và “đúi nghốo” cũng biến động theo nó.
Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đúi nghốo thường được gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội. Hiện tượng đúi nghốo có tính lịch sử và đang có sự biến động trong sự vận động chung của đất nước. Ở nước ta, việc xác định chuẩn nghốo luụn thay đổi theo từng thời kỳ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm nghiên cứu và xem xét chuẩn mực nghèo đói của cả nước qua từng thời 18 kỳ.
Chuẩn mực nghèo đói là một khái niệm động phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận, điều kiện kinh tế và thời gian. Từ đó xác lập được chuẩn mực đúi nghốo. Năm 1996 chuẩn mực đói được đánh giá như sau: Bảng 1: Chuẩn mực đúi nghốo năm 1996 Thu nhập bình quân đầu người/tháng Loại hộ Địa bàn Hiện vật kg Giá trị đồng gạo/người Nông thôn, miền Dưới 15 kg < 60.000 núi, hải đảo Nông thôn, đồng < 80.000 Nghèo Dưới 20 kg bằng, trung du Thành thị Dưới 25 kg < 100.000 Đói Cả nước Dưới 13 kg < 52.000 (Nguồn: Bộ lao động – thương binh xã hội năm 1996) Chuẩn mực đúi nghốo năm 1997 được đánh giá tại quy định số 1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội như sau: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương với 45.000 đồng/người/thỏng (tớnh cho mọi vùng) Hộ nghèo: là những hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo: vùng nông thôn, miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/thỏng (tương đương với 700.000 đồng); vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/thỏng; vựng thành thị dưới 25kg/người/thỏng (tương đương với 90. Chuẩn mực này áp dụng đến hết năm 2000.
Từ ngày 1/1/2001 nước ta áp dụng chuẩn nghèo mới theo quyết định số 1143/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định: 19 Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân dưới 80.000 đồng/người/thỏng; 960.000 đồng/người/năm. Vùng nông thôn đồng bằng: hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập dưới 100.000 đồng/người/ tháng; 1.000 đồng/người/năm. Vùng thành thị: hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 150.000 đồng/người/thỏng; 1.000 đồng/người/năm. Chuẩn mực nghèo đói năm 2003 được đánh giá như sau: Hộ đói: ở nông thôn là những hộ có thu nhập bình quân dưới 8kg gạo/người/thỏng; ở thành thị là những hộ có thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/thỏng.
Hộ nghèo: ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/thỏng; ở thành thị là những hộ có mức thu nhập dưới 18kg gạo/người/thỏng. Theo quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 được xác định như sau: Khu vực thành thị: 260.000 đồng/người/thỏng. Khu vực nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/người/thỏng. Chuẩn nghèo đói Việt Nam do Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra ở các giai đoạn khác nhau, đây là những chuẩn nghèo quốc gia.
Chuẩn nghèo được xác định dựa trên nhiều yếu tố nhưng trong đó thu nhập theo đầu người trờn thỏng (được tính bằng VNĐ hoặc tương đương kg gạo) là chỉ tiêu hàng đầu. 20 Bảng 2: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn Thu nhập theo đầu người/tháng Giai đoạn Nông thôn, miền núi, Nông thôn đồng bằng Thành phố hải đảo 1996 - 2000 < 55.000đ (Nguồn: Tạp chí khoa học, số 2, năm 2007) Như vậy, chuẩn nghèo đói luôn thay đổi biến động, phụ thuộc vào phương pháp, cách tiếp cận, điều kiện kinh tế - xã hội và thời gian. Đúi nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên nhân chính gây ra đúi nghốo có thể phân theo 3 nhóm: Nhóm nguyên nhân do điều kiện kinh tế - xã hội: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại. Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động.
Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn; chính sách khuyến khích sản xuất; vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, chính sách trong giáo dục, đào tạo, y tế… Đúi nghèo là hiện tượng kinh tế xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cả cộng đồng xã hội, phổ biến ở mọi quốc gia nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề này trong một thời gian ngắn và trên quy mô toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề xóa đói giảm nghèo chỉ có thể giải quyết dần từng bước và là cả một quá trình lâu dài. Chủ trương của Đảng về xúa đúi, giảm nghèo Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa đói giảm nghèo 21 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như một lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn của các dân tộc bị áp bức và nhân loại của thế kỷ XX. Lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ tên tuổi chói lọi Hồ Chí Minh - “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn húa” thế giới.
Những di sản của Người sẽ sống mãi với thời gian, với cuộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho quyền được sống và được hưởng tự do, hạnh phúc của các dân tộc, của mỗi con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mỏc-Lờ nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Do đó, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đối với con người, đặc biệt là những người nghèo khổ xuất phát từ quan điểm Mác xít về con người và giải phóng con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn là thiếu niên đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào.
Lúc bấy giờ, Người đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng dõn tộc. Với tình yêu thương đồng bào phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, Người đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Trong hành trang ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, yêu nước và thương dân là hai yếu tố quan trọng nhất. Người đã từng khẳng định rằng: Lòng yêu nước của tôi với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.