phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác an ninh giai đoạn 1961 - 1965 Chƣơng 2: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác an ninh giai đoạn 1965 - 1968 Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TRUNG ƢƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC AN NINH GIAI ĐOẠN 1961 - 1965 1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ và chủ trƣơng của Trung ƣơng Cục miền Nam về công tác an ninh 1.1 Khái quát công tác an ninh của Xứ ủy Nam Bộ Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vĩ đại với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu. Tuy nhiên đế quốc Mỹ không từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam. Bất chấp các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, Mỹ vẫn đưa quân, vũ khí vào miền Nam, xây dựng thêm căn cứ quân sự.
Dự báo được tình hình, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương (BCH TW) Đảng họp nhận định, đánh giá âm mưu của địch xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đối với chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện tại: “Phải đấu tranh đòi đối phương thi hành đầy đủ hiệp định Giơnevơ, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, không được khủng bố, đàn áp nhân dân trả thù những người kháng chiến cũ, không được cướp lại ruộng đất cũng như các quyền lợi dân sinh dân chủ mà cách mạng đã mang lại cho nhân dân” [4, tr. Đồng thời Đảng xác định phương thức đấu tranh cách mạng là chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị với phương châm hoạt động bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp. Đảng quyết định để lại một số cán bộ ở miền Nam hoạt động bí mật, lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.
Về tổ chức, Đảng chủ trương giải thể Trung ương Cục (TWC) miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ. Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị trong giai đoạn cách mạng miền Nam đang chuyển mình, nhiệm vụ của lực lượng công an nhân dân cũng thay 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đổi để phù hợp với chiến trường mới. Tháng 9 năm 1954, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an, cử đồng chí Viễn Chi vào Nam Bộ để truyền đạt chủ trương của lãnh đạo Bộ Công an về công tác công an nói chung cũng như công tác tình báo nói riêng trong tình hình mới. Tháng 10 năm 1954, tại khu căn cứ U Minh Hạ, Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Bộ được triệu tập do đồng chí Lê Duẩn chủ trì.
Hội nghị đã nghiên cứu quán triệt các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị về nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong tình hình mới và xác định: Trước mắt nhân dân miền Nam phải đoàn kết đấu tranh buộc đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Đảng bộ miền Nam phải rút vào hoạt động bí mật. Hội nghị thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị giải thể TWC miền Nam và thành lập cơ quan lãnh đạo mới là Xứ ủy Nam Bộ do đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư. Để bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng và tổ chức đấu tranh chống bọn công an ngụy, mật vụ, nhất là bọn ác ôn có thâm thù với cách mạng, với kháng chiến, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập Ban bảo vệ Xứ uỷ; các cấp ủy thành lập Ban bảo vệ do đồng chí đồng chí Bí thư hoặc Phó Bí thư phụ trách và có cán bộ Công an ở lại làm chuyên trách với nhiệm vụ: vận động quần chúng tham gia phong trào phòng giam bảo mật, chống địch khủng bố, giải thoát cho cán bộ của ta bị địch bắt; tổ chức nắm tình hình của địch; xây dựng bảo vệ hệ thống giao thông liên lạc; chuẩn bị căn cứ dự bị, bảo đảm an toàn cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng.
Tổ chức của Ban Bảo vệ Xứ ủy gồm ba bộ phận: Bộ phận địch tình, bộ phận bảo vệ và bộ phận thông tin liên lạc. Đầu năm 1955, theo quyết định của Xứ uỷ Nam bộ, Ban Địch tình Xứ uỷ Nam Bộ được thành lập. Đồng chí Văn Viên, Xứ uỷ viên làm Trưởng ban; các đồng chí Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm, Hoàng Minh Đạo làm Phó trưởng ban, sau đó bổ sung thêm đồng chí Trần Quốc Hương (tức Mười Hương) từ miền Bắc vào làm Phó trưởng ban. Tổ chức của Ban địch tình Xứ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com uỷ có hai bộ phận: bộ phận sưu tập 1 (Điệp báo) và bộ phận tổng hợp địch tình.
Ban địch tình Xứ ủy có nhiệm vụ: “Tổ chức xây dựng và chỉ đạo cơ sở điệp báo trong các cơ quan tình báo, gián điệp, công an, cảnh sát, các cơ quan cao cấp của ngụy quân, ngụy quyền, các đảng phái tôn giáo phản động để nắm tình hình, âm mưu, chỉ đạo của chúng; xây dựng căn cứ địa kháng chiến để bảo vệ các cấp ủy, bảo vệ thực lực kháng chiến” [72, tr. Sau khi Ban Địch tình Xứ ủy được thành lập, theo chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ, các khu, tỉnh cũng lần lượt thành lập Ban Địch tình các cấp. Riêng các tỉnh thuộc Liên tỉnh ủy III (sau là khu 6) ở cực Nam Trung Bộ không có tổ chức Ban Địch tình mà mỗi cán bộ, đảng viên ở lại đều làm công tác địch tình và vận động quần chúng làm công tác binh vận bảo tồn thực lực cách mạng. Trong thời gian này, Đảng chủ trương tập trung các hoạt động điệp báo cho chiến trường miền Nam.
Cơ sở điệp báo của Ban Địch tình Xứ ủy được tập hợp từ các nguồn cơ sở nội tuyến của Sở Công an Nam Bộ, Công an Sài Gòn – Chợ Lớn, Quân báo quân đội và Cục Tình báo Trung ương vào Nam theo đường di cư hoặc tập kết theo các đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền. Các đồng chí lãnh đạo Ban đã trực tiếp tổ chức, xây dựng được nhiều lưới điệp báo hoạt động theo 4 hệ, mỗi đồng chí lãnh đạo, chỉ huy một hệ theo nguyên tắc ngăn cách, bí mật: Hệ tình báo quân sự có 6 lưới do các đồng chí Hoàng Minh Đạo phụ trách, sau này do đồng chí Văn Viên phụ trách; Hệ tình báo chính trị gồm 6 lưới, do đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách đảm nhiệm việc theo dõi các đảng phái và ngụy quyền Sài Gòn trung ương; Hệ tình báo phản gián gồm 5 lưới, do đồng chí Cao Đăng Chiếm phụ trách đảm nhiệm việc theo dõi các tổ chức đàn áp thuộc cơ quan đàn áp ở trung ương địch; Hệ tình báo chiến lược có 10 lưới do đồng chí Trần Quốc Hương phụ trách. Ban Địch tình Xứ ủy và các Khu ủy, Tỉnh ủy đã bố trí được nhiều cán bộ và cơ sở xâm nhập vào hàng ngũ địch. Trong đó có nhiều đồng chí đã thâm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhập sâu vào các cơ quan, tổ chức trọng yếu của địch như: Phủ Thủ tướng, Nha Công an Nam phần, cơ quan Tổng thanh tra dân vệ của Diệm và các giáo phái…, qua đó đã thu được nhiều tin tức quan trọng của địch.
Đặc biệt những tin tức liên quan đến các chiến dịch quân sự, các kế hoạch đàn áp của Diệm; đồng thời khoét sâu mâu thuẫn giữa bọn phản động tay sai thân Mỹ với bọn thân Pháp và ngay trong nội bộ của chúng với nhau. Ở một số nơi, ta đã lôi kéo binh lính nổi dậy diệt ác ôn, tước vũ khí, sau đó gia nhập vào lực lượng vũ trang của cách mạng. Nhiều cán bộ tình báo bố trí hoạt động trong lòng địch thời gian này đã tạo được vỏ bọc, phát huy tác dụng tốt, hoạt động có hiệu quả cho đến ngày miền hoàn toàn giải phóng. Sau khi buộc Pháp rút toàn bộ quân đội về nước và thôn tính xong lực lượng chống đối của các giáo phái thân Pháp, thống nhất được các lực lượng vũ trang vào quân đội quốc gia, từ tháng 7- 1956, Mỹ, Diệm bắt đầu triển khai chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” giai đoạn 2.
Chúng tiến hành hai chiến dịch lớn mang tên “Trương Tấn Bửu” ở miền Trung Nam Bộ và “Thoại Ngọc Hầu” ở miền Tây Nam Bộ. Diệm sử dụng lực lượng quân sự đánh phá ác liệt và rộng khắp, kết hợp với hoạt động tình báo, gián điệp, nhằm bóc gỡ triệt để cơ sở cách mạng. Chúng tập trung vào các vùng trọng điểm như: Sài Gòn, Gia Định, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bến Tre, Cần Thơ, Long Xuyên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãy, Bình Định, Phú Yên… Cùng với kế hoạch càn quét đàn áp phong trào cách mạng, Mỹ, Diệm còn công bố sắc luật “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, đồng thời gài gián điệp vào các tổ chức quần chúng, sử dụng những phần tử đầu hàng đầu thú để chỉ điểm, nhận diện đảng viên và quần chúng tích cực; ngoài ra Diệm còn lập các “Khu dinh điền”, “Khu trù mật” dồn đồng bào các tỉnh đồng bằng lên miền núi nhằm phá nát căn cứ địa của cách mạng; cô lập cán bộ đảng viên và những người yêu nước, buộc họ phải ra trình diện. Cách mạng miền Nam đứng trước những khó khăn tổn thất lớn.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhằm định hướng cho phong trào cách mạng của quần chúng phù hợp với tương quan lực lượng giữa địch và ta, tháng 6-1956, Bộ Chính trị ra nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ cách mạng miền Nam. Nghị quyết xác định hình thức đấu tranh là: “Đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định. Phải củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có, xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa, đồng thời xây dựng các cơ sở quần chúng vững mạnh là điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang.
Tổ chức tự vệ quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết” [4, tr. Mùa thu năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách miền Nam đã soạn thảo “Đề cương cách mạng miềnNam”.