mở đầu bằng một đoạn hát nói (recitative), hoàn chỉnh loại nhạc mở màn (overture) của vở opera. cấu trúc thành ba tốc độ chuyển động (movement) nhanh - chậm - nhanh, đƣa vào lối hát opera kỹ xảo coloratura và ông còn nhiều cống hiến khác trong opera”[23; tr. Hát bel canto là phƣơng pháp có tính ƣu việt nên đƣợc nhiều nƣớc châu Âu và cả châu Á đã tiếp thu và vận dụng vào thanh nhạc của nƣớc mình. Các tác phẩm thanh nhạc cổ điển châu Âu có nhiều thể loại khác nhau nhƣ: ca khúc, romance, hợp xƣớng, oratorio, opera… Riêng oratorio và opera còn có nhiều hình thức hát trong đó nhƣ aria, ariozo, ballade… Mỗi thể loại có những đặc tính riêng, đòi hỏi mức độ khác nhau về kỹ thuật cũng nhƣ nghệ thuật.
Bên cạnh đó, mỗi thể loại còn tạo ra những lợi ích khác nhau trong quá trình rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc cho ngƣời hát. Kỹ thuật thanh nhạc bel canto cổ điển châu Âu chính là nghệ thuật của sự huy động các khả năng cộng hƣởng tự nhiên của giọng hát nhằm mục đích giúp cho tiếng hát có âm lƣợng lớn, cƣờng độ mạnh có sức vang to và tiếng hát đầy đặn… Để đạt nhƣ vậy, trong hát bel canto sử dụng nhiều kỹ thuật thanh nhạc nhƣ: legato, non legato, staccato, marcato, passage… Trong đó, kỹ thuật legato đƣợc coi là một trong những kỹ thuật quan trọng hàng đầu, có tính nền tảng. Dƣới đây, chúng tôi xin trích dẫn phân tích kỹ thuật legato đƣợc sử dụng trong một số thể loại thanh nhạc cổ điển châu Âu nhƣ aria, romance… để chứng minh cho sự cần thiết phải rèn luyện kỹ thuật legato. Aria 18 Aria là thể loại thanh nhạc phức tạp, trích từ các nhạc kịch (opera), ca kịch (operette), đại hợp xƣớng (cantata), thanh xƣớng kịch (oratorio)., có kết cấu và nghệ thuật hoàn chỉnh, dành cho diễn viên đơn ca với dàn nhạc đệm.
Trong nhạc kịch, ca kịch…, “aria làm nhiệm vụ giới thiệu cuộc sống nội tâm, tƣ tƣởng tình cảm của nhân vật hay nói cách khác nó khắc họa tính cách, vẽ lên “chân dung” của nhân vật và thƣờng đƣợc các nhạc sĩ dành cho các nhân vật chính” [20; tr. Âm nhạc trong các aria thƣờng có sức diễn cảm cao và tập trung ở đó là bút pháp nghệ thuật đặc sắc của tác giả nên đi đôi với nó là sự phong phú của giai điệu cũng nhƣ kỹ thuật thanh nhạc. “Thƣờng là ca sĩ có cơ hội thể hiện các kỹ thuật thanh nhạc điêu luyện trong các aria, hay có thể nói là có điều kiện để phô diễn giọng hát nhiều hơn ở các thể loại thanh nhạc khác” [20; tr. Khi hát các bản aria, đòi hỏi ngƣời hát phải hiểu sâu sắc về hình tƣợng nhân vật của tác phẩm, phải nắm vững các loại kỹ thuật thanh nhạc, trong đó không thể thiếu kỹ thuật legato.
Chẳng hạn nhƣ trong aria Quando m’en vo (Tôi luôn vui vẻ) trong opera La Boheme của nhạc sĩ ngƣời Ý Giacomo Puccini (1858-1924) dƣới đây là một dẫn chứng về kỹ thuật legato: Ví dụ số 5 QUANDO M’ENVO (Trích trong opera La Boheme) G. Puccini 19 Trong ví dụ trên, aria này đƣợc viết ở nhịp 3 4, tính chất uyển chuyển, mềm mại, du dƣơng. Trong giai điệu có rất nhiều dấu luyến kết hợp ngân dài đòi hỏi ca sĩ phải hít hơi sâu, nén hơi chắc và đẩy hơi một cách nhẹ nhàng, đều đặn ở tất cả các nốt nhạc trong cùng một câu. Rossini Trong aria trên, kỹ thuật legato đƣợc kết hợp với hát nhanh nhiều nốt và cả staccato.
Đây là aria có kỹ thuật rất khó, có ô nhịp tới hơn 30 nốt nhạc. Để thể hiện tốt bản aria này, cần có một hơi thở tốt, vị trí âm thanh thống nhất, phải biết cách giữ hơi và điều chỉnh hơi thở sao cho âm thanh đều đặn, không bị mất nốt cả khi giai điệu đi lên và đi xuống, hát sao cho âm thanh trƣợt đều và rất nhẹ ở đầu môi, cảm giác nhƣ giai điệu nối tiếp nhau tuôn trào, lƣớt nhanh nhƣng vẫn đảm bảo phải legato nghĩa là uyển chuyển, mềm mại, quyện miết vào nhau. Romance 20 Là dạng ca khúc nghệ thuật có phần nhạc đệm piano của nhạc sỹ sáng tác, có nội dung là tính chất trữ tình và trữ tình-kịch tính, “Romance về cơ bản là th loại âm nhạc thính phòng” [10; tr. Thể loại này mang tính chuyên nghiệp cao với đặc điểm là tính trữ tình nên sử dụng rất nhiều kỹ thuật legato.
Romance có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện, phát triển, hoàn thiện kỹ thuật thanh nhạc và nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt là kỹ thuật hát legato. Ví dụ số 7 Romance: AMARILLI, MIA BELLA (Trích) Với romance Amarilli, mia bella (Amarilli, người đẹp của tôi) của nhạc sĩ Giulio Caccini (1551-1618) kỹ thuật legato đƣợc kết hợp với kỹ thuật marcato, hơi thở nén sâu, đặt mềm âm thanh hát liền tiếng, miết nốt này sang nốt kia thật mềm mại. Cuối câu hát vị trí âm thanh đƣợc đặt về chân răng cửa để âm thanh vừa mềm mại vừa đúng vị trí vang sáng. Câu đầu hát kìm lại đẩy câu sau“cresc” “f ” cùng với kỹ thuật marcato hát to dần lên đến cao trào lột tả sự đau khổ của anh chàng si tình với ngƣời đẹp.
Thanh nhạc cổ điển phƣơng Tây bắt nguồn từ truyền thống hát nhà thờ ở thời Trung cổ hay Phục hƣng thế k XIV-XVI với các loại thánh ca có giai điệu ngân nga, dàn trải, rất cần kỹ thuật hát legato. Ave Maria - một loại thánh ca về Đức mẹ Maria, là thể loại thanh nhạc nhà thờ, rất phát triển 21 thời đó và kể cả về sau này do đƣợc nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp quan tâm sáng tác nhƣ Franz Schubert (1797-1828), Charles Gounod (1818-1893)… Bản Ave Maria của nhạc sĩ nhà thờ thời kỳ Phục hƣng Giulio Romolo Caccini (1551-1618) dƣới đây là một dẫn chứng về kỹ thuật hát legato kết hợp ngân dài: Ví dụ số 8 AVE MARIA (Trích) Với bản Ave Maria này, không chỉ hát legato làm sao cho âm thanh mƣợt mà, quyện vào nhau mà còn kết hợp hát ngân dài ở nhịp độ chậm nên đòi hỏi ngƣời hát phải có hơi thở rất tốt, đồng thời phải giữ chắc vị trí âm thanh. Nhƣ vậy, hát bel canto là phong cách đƣợc áp dụng trong thanh nhạc cổ điển phƣơng Tây với nhiều kỹ thuật phong phú, phức tạp, trong đó sự có mặt của kỹ thuật legato là hết sức quan trọng để trình diễn tác phẩm một cách hoàn hảo nhất. Trong thanh nhạc Việt Nam 1.
Trong ca hát truyền thống Nghệ thuật ca hát cổ truyền Việt Nam rất đa dạng về thể loại, phong phú về âm nhạc, lời ca và tính chất cảm xúc. Các thể loại ca hát cổ truyền thƣờng có giai điệu phù hợp cách hát tự nhiên, mƣợt mà, trong sáng, mang một vẻ đẹp thuần khiết. Đó chính là những phẩm chất mà giọng hát cần 22 phải rèn luyện và để đạt đƣợc những phẩm chất đó thì cách hát mƣợt mà, liền giọng nhƣ thanh nhạc phƣơng Tây gọi là legato đƣợc áp dụng. Để hát tốt các làn điệu dân ca, các nghệ nhân đều đặt ra tiêu chí “tròn vành, rõ chữ” và về nghệ thuật thƣờng đƣợc dựa trên các tiêu chí vang, rền, nền, nảy… Trong các tiêu chí vang, rền, nền, nảy đó thì rền và nền là cách hát để tạo sự mƣợt mà, nền nã, là những cách hát gần với hát legato.
Vì thế có thể nói, legato là cách hát hoàn toàn có thể đƣợc vận dụng trong nhiều thể loại âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Có thể dẫn ra rất nhiều thể loại cần đến cách hát mƣợt mà, liền tiếng. Trƣớc hết là thể loại Hát ru. Hát ru có cội nguồn từ một hoạt động của con ngƣời là ru con ngủ.
Bởi vậy, không chỉ có Việt Nam, bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều có thể loại Hát ru của mình. Đặc trƣng của hát ru con ngủ là giai điệu phải mƣợt mà, êm đềm, đều đều, du dƣơng, vì thế phải hát liền tiếng. Chẳng hạn nhƣ trong bài Ru em dân ca Xê đăng dƣới đây (xem phụ lục III, trang 160). Ví dụ số 9 RU EM (Trích) Giai điệu đƣợc tiến hành trong một âm vực không rộng (1 quãng 8), tiết tấu khá bình ổn tạo tính chất êm đềm, du dƣơng, mƣợt mà.
Khi hát đòi hỏi phải tạo sự mềm mại, liền tiếng. 23 Dân ca Quan họ có đặc điểm nổi bật trong cách hát là vang, rền, nền, nảy mà khi hát muốn tạo ra sự nền nã, rền âm thanh thì phải hát mƣợt mà, liền tiếng (xem phụ lục III, trang 179). Ví dụ 10 CÕN DUYÊN (Trích) Các thể loại Hò và Lý vùng Trung Bộ và Nam Bộ cũng có rất nhiều bài có giai điệu mƣợt mà, dàn trải rất cần đến kỹ thuật hát liền tiếng. Chẳng hạn nhƣ giai điệu bài ý chiều chiều dƣới đây là một trong những dẫn chứng cho cách hát liền tiếng (xem phụ lục III, trang 160).
Ví dụ số 11 LÝ CHIỀU CHIỀU (Trích) Còn rất nhiều dẫn chứng của các thể loại hát khác nữa trong dân ca Việt Nam cần đến kỹ thuật hát liền tiếng song trong phạm vi của luận văn chỉ xin nêu một số ví dụ nhƣ trên đây. Trong nghệ thuật hát mới Nghệ thuật hát mới ra đời cùng phong trào Tân nhạc từ cuối những năm 30 thế k XX và sớm phát triển thành xu hƣớng ở nƣớc ta những năm 24 trƣớc Cách mạng tháng Tám. Ngay từ những năm đó, các ca sĩ đã phỏng theo, học theo cách hát của các nghệ sĩ nƣớc ngoài do ngƣời Pháp đƣa vào Việt Nam. Khi nền Tân nhạc Việt Nam đƣợc hình thành với những sáng tác ca khúc mới (đƣợc sáng tác dựa trên những nguyên tắc của âm nhạc phƣơng Tây) của chính các nhạc sĩ Việt Nam thì để đáp ứng cho bƣớc phát triển này, lớp ca sĩ mới xuất hiện.
Tân nhạc ra đời đòi hỏi phải có nghệ thuật ca hát thích hợp. Ca khúc mới với sự đa dạng về thể loại, phong cách, ngôn ngữ và cáhc biểu hiện thì nó cũng đòi hỏi nghệ thuật thanh nhạc tƣơng ứng, vì vậy nghệ thuật hát mới ra đời. Tiếng Việt vốn rất đa dạng và phong phú, mỗi nơi, mỗi vùng miền có sự khác nhau về phát âm. Nghệ thuật thanh nhạc mới lấy tiếng Bắc còn gọi là giọng Bắc hay giọng Hà Nội, hay phƣơng ngữ Hà Nội làm chuẩn.
Những đặc thù này đƣợc phản ánh khá đầy đủ trong ca khúc Việt kể từ những ngày đầu thời kỳ Tân nhạc cho đến nay.