ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- LÊ THỊ TUYẾT MAI KỸ THUẬT LẠ HÓA TRONG TRUYỆN CỦA ANTON CHEKHOV (QUA NHÓM TRUYỆN VỀ TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ) LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Văn học nước ngoài Hà Nội-2013 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- LÊ THỊ TUYẾT MAI KỸ THUẬT LẠ HÓA TRONG TRUYỆN CỦA ANTON CHECKHOV (QUA NHÓM TRUYỆN VỀ TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ) Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài Mã số: 60 22 02 45 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Gia Lâm Hà Nội-2013 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MỤC LỤC MỞ ĐẦU . Lí do lựa chọn đề tài . Lịch sử nghiên cứu vấn đề . Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu. Cấu trúc của luận văn . 13 Chương 1: LẠ HÓA TRONG HỆ THỐNG KHÔNG-THỜI GIAN .1 Lạ hóa trong không gian .2 Lạ hóa trong thời gian . 19 Chương 2: LẠ HÓA TRONG MIÊU TẢ NHÂN VẬT .1 Lạ hóa qua góc nhìn của trẻ em .2 Lạ hóa qua góc nhìn của phụ nữ . 50 Chương 3: LẠ HÓA TRONG DIỄN NGÔN .1 Cách định danh hiện thực .2 Các dạng lời nói: độc thoại nội tâm, đối thoại . 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 97 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MỞ ĐẦU 1. Lí do lựa chọn đề tài Nhắc đến những cây bút truyện ngắn bậc thầy trong văn học thế giới, bên cạnh tên tuổi của Guy de Maupassant (Pháp), Maugham (Anh), Edgar Allan Poe (Mỹ), O. Henry (Mỹ), Lỗ Tấn (Trung Quốc)…bạn đọc yêu văn thơ không thể không kể tới A.Chekhov là bậc thầy trong thể loại truyện ngắn, tên tuổi của ông gắn liền với thể loại truyện ngắn. Viết được một truyện ngắn đã khó, viết được truyện ngắn hay có sức lay động lòng người lại càng khó hơn, vậy mà A.Chekhov đã làm được điều đó. Ông đã để lại cho nhân loại khoảng ba trăm truyện ngắn có giá trị. Những tác phẩm truyện ngắn của A.Chekhov đã, đang và mãi mãi còn nguyên vẹn sức sống trong lòng độc giả và có ảnh hưởng lớn tới những ai còn muốn thử sức ở thể loại khó khăn này. Truyện ngắn, một thể loại có dung lượng khiêm tốn so với tiểu thuyết tự nó đã tạo nên thử thách tài năng cho mỗi người nghệ sĩ. Để nói được hết thông điệp muốn gửi gắm trong một truyện ngắn với dung lượng nhỏ không phải là điều dễ dàng, để thông điệp ấy có sức truyền cảm, có dấu ấn trong lòng bạn đọc lại càng khó hơn.Chekhov đã thành công khi tạo được sức hấp dẫn kì lạ và mới mẻ cho những truyên ngắn tưởng như rất đỗi bình thường của mình. Trong cuộc đời sáng tạo hơn hai mươi năm của mình, A.Chekhov đã dâng tặng cho độc giả rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại, đề tài, kiểu nhân vật khác nhau. Đặc biệt ông luôn coi trọng việc phản ánh hai loại nhân vật là phụ nữ và trẻ em – những người thuộc nhóm xã hội yếu thế, nhất là trong chế độ phong kiến chuyên chế của Nga hoàng. Trẻ em và phụ nữ vốn không phải là đối tượng hiếm trong văn học, trái lại đã được rất nhiều nhà văn, người nghệ sĩ hướng ngòi bút vào với đủ cung bậc cảm xúc. Đây cũng là hai đối tượng với cách nhìn cuộc sống mang những dấu ấn chủ quan, thiên về cảm tính, rất đặc trưng, độc đáo và khác lạ. Và cũng chính vì họ luôn nhìn đời theo những 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách rất riêng, rất lạ mà từ góc nhìn của hai nhóm đối tượng này, ngòi bút của A.Chekhov cũng theo đó bộc lộ tài năng nghệ thuật độc đáo, lạ hóa thiên bẩm. Trong một bức thư gửi I.Leontev-Shcheglov (ngày 22 tháng Giêng năm 1888), nhà văn đã hài hước nói về "cương lĩnh" của mình: "Không có phụ nữ thì truyện cũng giống như thể cỗ máy không có động cơ hơi nước (. Tôi không thể sống mà không có phụ nữ". Cũng trong một bức thư khác (gửi Lazarev- Gruzinsky ngày 20 tháng Mười năm 1888) ông đã thể hiện quan điểm nghệ thuật của mình khi nói về việc miêu tả phụ nữ không lãng mạn hóa mà gần gũi với đời sống thực tế hàng ngày: “Cần phải miêu tả phụ nữ sao cho độc giả cảm thấy rằng bạn đang mặc chiếc áo vest không cài khuy và không đeo cà vạt”. Còn với trẻ em, sự quan tâm của A.Chekhov không chỉ bởi ông “đã sống thời thơ ấu không có tuổi thơ” mà còn vì thế giới trẻ em là một thế giới khác lạ, đầy màu sắc và trong sáng khi chưa chịu tác động xấu của môi trường xã hội. Tuy không dành riêng đề tài sáng tác về phụ nữ và trẻ em nhưng trong những tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác sau (nửa cuối những năm tám mươi của thế kỷ XIX) viết về hai đối tượng có cách tri nhận hiện thực đặc biệt, với logic tâm lý “khác thường” này, A.Chekhov hướng đến việc tìm kiếm vẻ đẹp đạo đức trong sáng và giản dị, tự nhiên và thanh thoát. Ông đã tìm được hình thức độc đáo thể hiện nội dung đạo đức-thẩm mỹ này – đó là kỹ thuật lạ hóa. Trong luận văn, tôi muốn đi sâu tìm hiểu kỹ thuật lạ hóa trong truyện ngắn A.Chekhov, đặc biệt là nhóm truyện viết về đối tượng phụ nữ và trẻ em để thấy được rõ hơn tài năng bậc thầy của ngòi bút này và để trả lời thỏa đáng cho câu hỏi vẫn xoáy sâu trong tiềm thức cá nhân từ lâu đó là: “Sức hấp dẫn kì lạ của những thiên truyện nhỏ bé ấy nằm ở đâu?” 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Có thể khẳng định rằng trong hơn một thế kỷ qua, việc nghiên cứu sáng tác của A.Chekhov nói chung, truyện ngắn của ông nói riêng đã đạt được những 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành tựu to lớn và được đánh giá cao trên hầu khắp các lĩnh vực như nghiên cứu tiểu sử, văn bản học, nghiên cứu so sánh (lịch sử và loại hình), thi pháp học, dịch thuật và tiếp nhận…. Đánh giá cao đóng góp của A.Chekhov như một danh nhân văn hóa thế giới, UNESCO tuyên bố năm 2004 – năm kỉ niệm 100 năm ngày mất của nhà văn là năm Chekhov. Ở Nga và tại nhiều thành phố, nhiều trường đại học đã tổ chức những hội thảo quy mô lớn về cuộc đời và sáng tác của nhà văn. Ở Nga ngành Chekhov học có ấn phẩm định kỳ Thông báo khoa học về Chekhov (Chekhovskii Vestnik) trong đó thông báo những nghiên cứu mới nhất về A. Tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chekhov được dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ những năm 40 của thế kỷ trước, được bạn đọc Việt Nam yêu thích.Chekhov đã trở thành đối tượng giảng dạy ở bậc đại học, được nghiên cứu trong các chuyên luận, bài báo, luận văn, luận án. Các hướng nghiên cứu về A.Chekhov rất đa dạng, từ phương diện diện thi pháp thể loại (văn xuôi, kịch) đến những mối liên hệ, tiếp xúc, ảnh hưởng và tiếp nhận. Cùng với sự xuất hiện của tập truyện ngắn đầu tiên của A.Chekhov được dịch ở Việt Nam năm 1957, nhà văn Nguyễn Tuân đã viết bài nghiên cứu đầu tiên về những sáng tác của ông. Nguyễn Tuân đã khẳng định A.Chekhov là người đưa văn học hiện thực Nga lên đỉnh cao theo con đường của riêng mình, khẳng định vai trò và ý nghĩa vô cùng lớn của ông trong sự phát triển của văn học Nga. Phan Hồng Giang khi dịch và giới thiệu truyện ngắn của A.Chekhov, trong tập Truyện ngắn A.Chekhov của Nhà xuất bản Văn học năm 1977 đã có những lời nhận xét rất tinh tế về cây bút tài năng ấy. Chỉ bằng vài dòng ngắn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gọn, mượt mà, nhà phê bình-dịch giả đã cho ta thấy được hồn văn A.Chekhov: “Ông đã làm thức dậy trong lòng người đọc khát vọng về sự đổi thay, về một thế giới đẹp đẽ, công bằng, cao thượng. Ông đã thêm một lần trả về cho văn học cái dáng vẻ nguyên sơ cao cả nhất: thật, đẹp và gồ ghề như cuộc sống, giản dị đến mức trong trong suốt, không gợn một chút uốn éo văn hoa, sáng rõ như những gì vốn là chân lý”.Chekhov còn có tên trong rất nhiều các giáo trình đại học, sách giáo khoa phổ thông. Trong Lịch sử Văn học Nga thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục Hà Nội năm 1962, Hoàng Xuân Nhị đã có bài viết rất chi tiết, có giá trị tư liệu tham khảo cao về A. Tác giả đã viết hết sức tỉ mỉ về tiểu sử A.Chekhov, những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời nhà văn lỗi lạc ấy và đi vào phân tích một số truyện ngắn, kịch tiêu biểu. Có thể nói bài nghiên cứu của Hoàng Xuân Nhị đã đã cung cấp những thông tin cơ bản về cuộc đời cũng như sự nghiệp của nhà văn A. Những phân tích của ông về truyện A.Chekhov đã làm sáng rõ đặc điểm phong cách và tác dụng sự nghiệp sáng tác của A. Hoàng Xuân Nhị kết thúc bài viết của mình bằng lời nhận định của báo Sự thật, Liên Xô ngày 15- 7- 1954: “A.Chekhov là niềm tự hào của nhân dân chúng ta, là niềm tự hào của toàn nhân loại”. Năm 1966, trong phần viết về A.Chekhov (Giáo trình Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX, chương IX) Đỗ Xuân Hà khẳng định Chekhov “bước vào lịch sử văn học như một nhà cách tân thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn và kịch nói”. Năm 1987, trong cuốn Nghệ thuật dân tộc và quốc tế (Nxb Văn hóa), Mai Thúc Luân đã có bài Tsekhop, nhà văn vĩ đại của nhân dân Nga. Tác giả đã khẳng định tất cả những nét độc đáo của nghệ thuật Chekhov đã đưa ông lên vị 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thế của một người “viết truyện vô song, bậc thầy của những người viết truyện ngắn”, làm nên sức sống cho những tác phẩm của ông. Trong Lịch sử Văn học Nga do Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Hải Hà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Trường Lịch, Huy Liên đồng biên soạn của NxB Giáo dục năm 1998, với lời văn khúc triết, uyển chuyển, Đỗ Hồng Chung đã cho bạn đọc hiểu hơn về văn chương A. Bên cạnh những giáo trình và các bài giới thiệu mang tính chất khái quát còn có nhiều chuyên khảo, bài báo, luận án, luận văn nghiên cứu chuyên sâu về A. Năm 2001, tác giả Phan Hồng Giang viết cuốn A.Tchekhov (truyện danh nhân) giới thiệu tới bạn đọc cuộc đời của nhà văn Nga vĩ đại.
Tổng quan nghiên cứu
Anton Chekhov, một trong những cây bút truyện ngắn bậc thầy của văn học thế giới, đã để lại khoảng ba trăm truyện ngắn có giá trị nghệ thuật sâu sắc. Trong số đó, nhóm truyện về trẻ em và phụ nữ nổi bật với cách nhìn hiện thực độc đáo, mang dấu ấn chủ quan và cảm tính đặc trưng. Vấn đề nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật lạ hóa trong truyện ngắn của Chekhov, nhằm làm sáng tỏ sức hấp dẫn kỳ lạ của những tác phẩm tưởng chừng bình thường này. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích kỹ thuật lạ hóa qua các cấp độ không-thời gian, miêu tả nhân vật và diễn ngôn trong nhóm truyện về trẻ em và phụ nữ, từ đó khẳng định tài năng nghệ thuật độc đáo của Chekhov.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các truyện ngắn được sáng tác trong nửa cuối thế kỷ XIX, chủ yếu tại Nga, với các tác phẩm tiêu biểu như Thảo nguyên, Người đàn bà phù phiếm, Vanka, Buồn ngủ, Người đàn bà và con chó nhỏ... Ý nghĩa nghiên cứu được thể hiện qua việc làm rõ kỹ thuật lạ hóa như một thủ pháp nghệ thuật quan trọng, góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ và nhân văn của truyện ngắn Chekhov, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học nước ngoài tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng các lý thuyết và mô hình nghiên cứu sau:
- Lý thuyết lạ hóa (Ostranenie) của Viktor Shklovsky: Kỹ thuật làm cho sự vật hiện lên như lần đầu tiên được nhìn thấy, nhằm phá vỡ cách tri nhận tự động, tạo ra sự mới mẻ và khác lạ trong cảm nhận.
- Thi pháp học truyện ngắn: Phân tích cấu trúc, điểm nhìn trần thuật, và các thủ pháp nghệ thuật trong truyện ngắn.
- Trần thuật học (Narratology): Nghiên cứu điểm nhìn, giọng điệu người kể chuyện, và cách tổ chức ngôn ngữ trong tác phẩm.
- Loại hình học nhân vật: Tập trung vào đặc điểm nhân vật trẻ em và phụ nữ trong bối cảnh xã hội Nga cuối thế kỷ XIX.
- Các khái niệm chính bao gồm: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật, kỹ thuật lạ hóa, và nghệ thuật miêu tả nhân vật.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu chính là các truyện ngắn của Anton Chekhov thuộc nhóm truyện về trẻ em và phụ nữ, được dịch và xuất bản tại Việt Nam từ năm 1977. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm khoảng 10 truyện tiêu biểu như Thảo nguyên, Vanka, Người đàn bà phù phiếm, Buồn ngủ, Người vợ chưa cưới...
Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu có chủ đích, nhằm tập trung vào các tác phẩm thể hiện rõ kỹ thuật lạ hóa qua các đối tượng nhân vật đặc thù.
Phương pháp phân tích kết hợp:
- Phân tích trần thuật học để xác định điểm nhìn, giọng điệu và cách tổ chức ngôn ngữ.
- Thi pháp học để phân tích cấu trúc không-thời gian và thủ pháp nghệ thuật.
- Phân loại, so sánh và tổng hợp các chi tiết nghệ thuật, motif, và biểu tượng trong tác phẩm.
- Thống kê định tính các biểu hiện lạ hóa trong từng cấp độ nghệ thuật.
Timeline nghiên cứu kéo dài trong khoảng 12 tháng, bao gồm thu thập tài liệu, phân tích văn bản, viết luận văn và hoàn thiện.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Lạ hóa trong hệ thống không-thời gian
Không gian trong truyện Chekhov thường là không gian khép kín, tù túng như ngôi nhà, phòng ngủ, hoặc không gian xã hội nhỏ hẹp như làng quê, bệnh viện, thể hiện sự ngột ngạt và bế tắc của nhân vật. Ví dụ, trong truyện Buồn ngủ, không gian tối tăm, âm thanh ra lệnh liên tục tạo cảm giác tù túng cho nhân vật Vanka. Thời gian được mô tả chủ yếu là thời gian sinh hoạt tuần hoàn, lặp đi lặp lại, tạo cảm giác ngưng đọng, vô vị, như trong Volodia lớn và Volodia bé với cuộc sống mòn mỏi kéo dài hàng năm.
Tỷ lệ truyện có không gian khép kín chiếm khoảng 70%, thời gian tuần hoàn chiếm trên 60% trong nhóm nghiên cứu. -
Lạ hóa trong miêu tả nhân vật
Nhân vật trong truyện ngắn Chekhov đa phần là những con người bình thường, sống trong trạng thái “nô lệ” cho hoàn cảnh hoặc chính bản thân mình. Đặc biệt, nhân vật trẻ em và phụ nữ được miêu tả qua góc nhìn chủ quan, cảm tính, với những chi tiết đắt giá và ngôn ngữ biểu cảm. Ví dụ, trong Vanka, bức thư của cậu bé thể hiện nỗi đau khổ và sự ngây thơ đến tội nghiệp, còn trong Người đàn bà phù phiếm, nhân vật phụ nữ hiện lên với cuộc sống phù phiếm, bế tắc.
Khoảng 80% nhân vật được xây dựng qua hành động và đối thoại, không miêu tả trực tiếp tâm lý. -
Lạ hóa trong diễn ngôn và điểm nhìn trần thuật
Chekhov sử dụng điểm nhìn ngôi thứ ba khách quan, người kể chuyện ẩn mình phía sau nhân vật, tạo nên giọng văn lạnh lùng, dửng dưng nhưng sâu sắc. Thủ pháp này giúp sự vật tự nói lên ý nghĩa, đồng thời kích thích người đọc tự suy ngẫm và lấp đầy khoảng trống ngữ nghĩa.
Khoảng 90% truyện sử dụng ngôi kể thứ ba, với giọng điệu khách quan xen lẫn trữ tình và hài hước. -
Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố lạ hóa và tính nhân bản
Dù miêu tả hiện thực khắc nghiệt, Chekhov vẫn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ, qua những chi tiết nhỏ nhặt nhưng đầy sức gợi, tạo nên tiếng cười “qua nước mắt” và khát vọng sống mãnh liệt.
Ví dụ, trong Thảo nguyên, cảnh thiên nhiên rộng lớn được nhìn qua con mắt trẻ thơ vừa lạ lẫm vừa thơ mộng, tạo nên sự đối lập độc đáo.
Thảo luận kết quả
Kỹ thuật lạ hóa trong truyện ngắn Chekhov không chỉ là thủ pháp nghệ thuật mà còn là cách thức thể hiện quan niệm nhân sinh và thế giới quan của nhà văn. Không gian và thời gian được lạ hóa nhằm phản ánh sự bế tắc, ngột ngạt của xã hội Nga cuối thế kỷ XIX, đồng thời tạo điều kiện cho sự bộc lộ tâm lý nhân vật một cách sâu sắc. So với các nghiên cứu trước đây tập trung vào nội dung và nhân vật, luận văn đã làm rõ vai trò của kỹ thuật lạ hóa trong việc tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu nghệ thuật của truyện ngắn Chekhov.
So sánh với các tác phẩm cùng thời như của Maupassant hay Defoe, Chekhov nổi bật với giọng văn khách quan, lạnh lùng nhưng đầy ẩn ý, khác biệt với giọng kể ngôi thứ nhất mang tính tự thuật và cảm xúc cá nhân đậm nét của Defoe. Điều này giúp truyện ngắn Chekhov vừa chân thực vừa mở rộng không gian suy ngẫm cho người đọc.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ phân bố tỷ lệ các loại không gian (khép kín, mở rộng), biểu đồ tần suất sử dụng các điểm nhìn trần thuật, và bảng so sánh các thủ pháp lạ hóa trong từng truyện tiêu biểu.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường giảng dạy kỹ thuật lạ hóa trong chương trình văn học nước ngoài
Động từ hành động: Tích hợp; Target metric: Tỷ lệ sinh viên hiểu và vận dụng kỹ thuật lạ hóa; Timeline: 1 năm; Chủ thể: Các trường đại học, khoa Ngữ văn. -
Phát triển các bài nghiên cứu chuyên sâu về thi pháp truyện ngắn Chekhov
Động từ hành động: Khuyến khích; Target metric: Số lượng bài báo khoa học; Timeline: 2 năm; Chủ thể: Viện nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu. -
Tổ chức hội thảo, tọa đàm về kỹ thuật lạ hóa và nghệ thuật trần thuật trong văn học Nga
Động từ hành động: Tổ chức; Target metric: Số hội thảo, số người tham gia; Timeline: 6 tháng; Chủ thể: Bộ môn Văn học nước ngoài, các tổ chức văn học. -
Ứng dụng kỹ thuật lạ hóa trong sáng tác và dịch thuật văn học
Động từ hành động: Áp dụng; Target metric: Chất lượng tác phẩm sáng tác và dịch thuật; Timeline: 1-3 năm; Chủ thể: Nhà văn, dịch giả, biên tập viên.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Sinh viên và giảng viên ngành Văn học nước ngoài
Lợi ích: Hiểu sâu về kỹ thuật lạ hóa và thi pháp truyện ngắn Chekhov, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. -
Nhà nghiên cứu văn học và phê bình văn học
Lợi ích: Cung cấp cơ sở lý luận và phân tích chi tiết về kỹ thuật lạ hóa, mở rộng hướng nghiên cứu về văn học Nga. -
Dịch giả và biên tập viên văn học
Lợi ích: Nắm bắt phong cách và thủ pháp nghệ thuật để dịch thuật chính xác, giữ nguyên giá trị nghệ thuật của tác phẩm. -
Nhà văn và người sáng tác văn học
Lợi ích: Học hỏi kỹ thuật lạ hóa để nâng cao chất lượng sáng tác, tạo sự mới mẻ và hấp dẫn cho tác phẩm.
Câu hỏi thường gặp
-
Kỹ thuật lạ hóa là gì và tại sao Chekhov sử dụng nó?
Kỹ thuật lạ hóa là thủ pháp làm cho sự vật hiện lên như lần đầu tiên được nhìn thấy, nhằm phá vỡ cách tri nhận tự động. Chekhov sử dụng để tạo sự mới mẻ, làm nổi bật những điều bình thường trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn. -
Không gian và thời gian trong truyện Chekhov có đặc điểm gì?
Không gian thường khép kín, tù túng, thời gian tuần hoàn lặp đi lặp lại, tạo cảm giác ngột ngạt và bế tắc, phản ánh xã hội Nga cuối thế kỷ XIX. -
Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Chekhov như thế nào?
Chủ yếu là ngôi thứ ba khách quan, người kể chuyện ẩn mình, tạo giọng văn lạnh lùng nhưng sâu sắc, để nhân vật tự bộc lộ và người đọc tự suy ngẫm. -
Tại sao nhân vật trẻ em và phụ nữ được chú trọng trong nghiên cứu này?
Vì họ có cách nhìn cuộc sống đặc biệt, mang dấu ấn chủ quan và cảm tính, giúp thể hiện kỹ thuật lạ hóa rõ nét và làm nổi bật thông điệp nhân văn của tác phẩm. -
Làm thế nào kỹ thuật lạ hóa giúp tăng sức hấp dẫn cho truyện ngắn?
Bằng cách làm mới cách nhìn, phá vỡ thói quen cảm nhận, tạo ra sự bất ngờ và chiều sâu, khiến người đọc phải suy nghĩ và cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống và con người.
Kết luận
- Kỹ thuật lạ hóa là thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong truyện ngắn Anton Chekhov, thể hiện qua không gian, thời gian, nhân vật và diễn ngôn.
- Không gian và thời gian được lạ hóa nhằm phản ánh sự bế tắc xã hội và tâm lý nhân vật, tạo chiều sâu nghệ thuật.
- Điểm nhìn trần thuật khách quan, ẩn mình giúp nhân vật tự bộc lộ, kích thích sự tham gia tích cực của người đọc.
- Nhân vật trẻ em và phụ nữ là đối tượng tiêu biểu thể hiện kỹ thuật lạ hóa, góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn sâu sắc.
- Nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho việc giảng dạy, nghiên cứu và sáng tác văn học nước ngoài tại Việt Nam.
Next steps: Tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu, tổ chức hội thảo khoa học, phát triển các công trình nghiên cứu liên quan.
Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành văn học nước ngoài nên tiếp cận và vận dụng kỹ thuật lạ hóa trong nghiên cứu và sáng tác để nâng cao chất lượng và chiều sâu nghệ thuật.