Mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong luận án có 25 bảng số liệu và 3 biểu đồ. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ĐHSP kỹ thuật Khó khăn tâm lý và kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong Tâm lý học.
Do đó thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nƣớc. Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣng có thể khái quát tình hình nhƣ sau: 1. Những nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở nước ngoài 1. Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên Nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên của các tác giả nƣớc ngoài có thể kể đến một số công trình sau: Công trình nghiên cứu của Lucas CJ đã mô tả một số vấn đề tâm lý ở sinh viên nhƣ: trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn thời thơ ấu, rối loạn kiểm soát, rối loạn điều chỉnh, rối loạn nhân cách.
Tác giả cho rằng khi vấn đề tâm lý ảnh hƣởng đến sức khỏe tinh thần hoặc thể chất, mối quan hệ, năng suất làm việc, hoặc điều chỉnh cuộc sống, sinh viên cần phải nói chuyện với một ngƣời nào đó có thể giúp họ [91, p.A khi nghiên cứu về giao tiếp sƣ phạm cho rằng sinh viên sƣ phạm gặp phải một số trở ngại giao tiếp nhƣ không biết cách dàn xếp, tổ chức một cuộc tiếp xúc; không hiểu lập trƣờng của đối tƣợng giao tiếp; thụ động trong giao tiếp; có tâm trạng lo lắng, sợ hãi; lúng túng khi điều khiển các 10 trạng thái tâm lý của bản thân trong giao tiếp; không biết cách xây dựng mối quan hệ qua lại và đổi mới mối quan hệ theo nhiệm vụ sƣ phạm; bắt chƣớc một cách máy móc cách ứng xử của các giáo viên [Dẫn theo 6, tr. Ballard và Clanchy (1985) đã chỉ ra những KKTL trong quá trình học tập của từng sinh viên châu Á khi học tại các trƣờng đại học của Úc. Hai tác giả khẳng định: Sinh viên đến từ các nền văn hóa khác nhau thƣờng đặt ra các mục đích khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ. Hầu hết sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã đƣợc đào tạo ở trƣờng phổ thông và đại học, vì vậy họ có thể thành công ở ngôi trƣờng và đất nƣớc của họ nhƣng lại gặp thất bại ở đất nƣớc khác.
Bằng kinh nghiệm và kiến thức khoa học của mình, các tác giả và một số sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngƣời Nhật, Singapo, Inđônêxia tháo gỡ một số KKTL trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trƣờng đại học của hai ông. Các tác giả kết luận: Sinh viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa các nền văn hóa, kiến thức khác nhau để thích ứng với môi trƣờng học tập mới [78, p. Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài về KKTL trong học tập của sinh viên đều đã đề cập đến nhiều biểu hiện của KKTL và còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến KKTL, đồng thời các tác giả cũng đề xuất cách giúp SV vƣợt qua đƣợc những KKTL này để học tập tốt. Những nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với khó khăn tâm lý trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên a.
Hƣớng nghiên cứu về ứng phó và kỹ năng ứng phó Vấn đề KNƢP với hoàn cảnh khó khăn nói chung đã đƣợc nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở lứa tuổi vị thành niên, nhất là ở tuổi học sinh trung học cơ sở. Qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi có thể nhóm các công trình nghiên cứu theo các hƣớng nhƣ sau: 11 * Hƣớng thứ nhất: nghiên cứu về ảnh hƣởng của KNƢP đến sức khỏe thể chất và tinh thần: Các nghiên cứu khẳng định rằng những hạn chế về KNƢP của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn đã ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của các em. Cụ thể: Nghiên cứu của Nezu và Ronan (1988) chỉ ra rằng, vị thành niên không có kỹ năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, những vấn đề về trầm cảm, lo âu. Để giải quyết đƣợc, vị thành niên cần có niềm tin dựa trên năng lực, xác lập đƣợc những KNƢP với những hoàn cảnh khó khăn của chính bản thân vị thành niên [80; 1].
Một số tác giả cho rằng, hành vi ứng phó có tính chất ổn định và đƣợc coi là xu hƣớng ứng xử (Carver, Schenier, Weinntraub). Theo các tác giả này, con ngƣời có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau và đặc trƣng cho mỗi cá nhân [Dẫn theo 14; 9]. * Hƣớng thứ hai: nghiên cứu về cách ứng phó thể hiện mối liên quan của hành vi ứng phó với các sự kiện của cuộc sống, với những trải nghiệm sớm của cá nhân: Terry D.J (1999) nghiên cứu mối liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận thức về các khía cạnh khác nhau của stress với hành vi ứng phó. Theo họ, việc con ngƣời ứng xử thế nào trong hoàn cảnh khó khăn thƣờng chịu ảnh hƣởng của việc họ đánh giá chính về hoàn cảnh đó, tình huống đó [97].R (1994) cho rằng đứa trẻ có những trải nghiệm âm tính sớm thƣờng có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng gặp quang cảnh của sự kiện cũ hoặc những hoàn cảnh làm chúng liên tƣởng 12 tới những sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến quan hệ gia đình.
Ở đây có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức độ trải nghiệm các cảm xúc với cách mà con ngƣời ứng phó với hoàn cảnh khó khăn, với stress tâm lý [93].L, Horowwitz, Sdler và Kegeles (1988), tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của cách ứng phó với tính lạc quan và bi quan. Các tác giả nhận thấy tính lạc quan có quan hệ với khuynh hƣớng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dƣơng tính trong tình huống stress, ngƣợc lại tính bi quan thƣờng đi kèm vơi xu hƣớng phủ nhận hoặc tránh xa tình huống stress, tập trung vào những cảm giác stress của mình [Dẫn theo 14, tr. Hong Y, Chiu C, Dweck C. Theo Keil (2004), ứng phó là những nỗ lực về nhận diện và hành vi đƣợc tiến hành để kiểm soát (làm giảm, đƣa về mức tối thiểu, kiềm chế hoặc thích ứng) những khó khăn cá nhân và những yêu cầu của hoàn cảnh nhằm giúp cho cá nhân vƣợt ra đƣợc những tác nhân gây stress ở họ.
Nhƣ vậy, ngoài hai chức năng ban đầu: đấu tranh với những vấn đề gây ra stress và điều chỉnh cảm xúc mà những vấn đề đó đƣa ra, ứng phó còn bao gồm cả những yếu tố của sự sửa đổi và thay đổi [Dẫn theo 14; tr. Lazarus và Folkman (1984) [90] cho rằng ứng phó là những nỗ lực của cá nhân, bao gồm cả hành động bên ngoài và tâm lý bên trong nhằm giải quyết những tình huống vốn gây mệt mỏi hoặc vƣợt quá khả năng của cá nhân, buộc cá nhân phải nỗ lực để giải quyết. Lý thuyết tập trung vào hai cấp độ của sự đánh giá trong quá trình ứng phó. Ở cấp độ đầu tiên, cá nhân đánh giá liệu sự 13 kiện xảy ra có gây khó khăn cho cuộc sống của mình hay không.
Cấp độ thứ hai liên quan đến việc kiểm tra những kinh nghiệm ứng phó đã có để vận dụng vào giải quyết tình huống. Vì vậy, ứng phó là một quá trình năng động phụ thuộc vào cả những đòi hỏi của môi trƣờng và đặc trƣng của cá nhân. Theo hai tác giả này, hành vi ứng phó có tính chất tình huống rõ rệt, chịu ảnh hƣởng từ chính cách nhìn nhận, đánh giá tình huống của con ngƣời ngay trong thời điểm xảy ra tình huống. Mục đích của các nghiên cứu của các tác giả này nhằm tìm ra những khuôn mẫu ứng phó có hiệu quả với những tình huống, hoàn cảnh nhất định để có thể giúp những ngƣời rơi vào hoàn cảnh đó có cách ứng phó phù hợp.
Maria Cristina Richaud (2000) nghiên cứu và nhận thấy mối quan hệ với cha mẹ và bạn cùng tuổi trong thời thơ bé đƣợc coi là một trong những khía cạnh quan trọng nhất quyết định sự phát triển của nhân cách và hành vi. Mối quan hệ của trẻ vị thành niên với cha mẹ và bạn cùng tuổi hỗ trợ cho trẻ trong suốt cuộc đời. Những ngƣời có khó khăn trong mối quan hệ tƣơng tác có thể có nguy cơ không phát triển nguồn lực phù hợp để ứng phó với khó khăn, stress trong cuộc sống. Những ngƣời nhƣ vậy luôn có xu hƣớng cảm nhận thế giới là rất nguy hiểm, thù địch và họ cảm thấy cần phải tiếp cận một cách hung hăng hơn, lảng tránh hay ức chế.
Đối với lứa tuổi vị thành niên, khi đối mặt với đặc trƣng phiền phức của giai đoạn khủng hoảng cuộc sống, kiểu ứng phó đƣợc phát triển từ thời thơ bé đƣợc đem ra áp dụng. Những kiểu ứng phó nhƣ vậy có thể thay đổi theo những khó khăn trong cuộc sống vào thời điểm đặc biệt. Kiểu ứng phó về sau có liên quan cơ bản đến kiểu tƣơng tác với bố mẹ và bạn cùng lứa đƣợc thiết lập trong giai đoạn này. Khi trẻ mở rộng mối quan hệ xã hội, các em dần xa những ngƣời thân trong gia đình.
Tuy nhiên, những mối quan hệ mới đƣợc hình thành sẽ phản ánh mẫu hình giống nhƣ đã học đƣợc ở gia đình. Mặt khác, giới tính và độ tuổi của vị thành niên quyết định mỗi kiểu ứng phó [Dẫn theo 14, tr. 14 * Hƣớng thứ ba: Nghiên cứu cách đo hành vi ứng phó Lazarus và Folkman (1984) cho rằng có hai phƣơng án ứng phó với hoàn cảnh, đó là tập trung trọng tâm vào vấn đề (hành vi hƣớng tới vấn đề cần giải quyết, giải quyết vấn đề) và tập trung trọng tâm vào cảm xúc (thay đổi thái độ, tâm thế của cá nhân trong mối quan hệ với hoàn cảnh) [90].