CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ KỸ NĂNG THU THẬP CHỨNG CỨ, ĐÁNH GIÁ CHỬNG cứ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN sụ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM KỸ NĂNG THU THẬP CHÚNG cú, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỦ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT vụ VIỆC DÂN sự TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm kỹ năng thu thập chúng cứ của Tòa án Nhân dân Để xây dựng khái niệm “kỳ năng thu thập chứng cứ của TAND” cần làm rõ các khái niệm: “chứng cứ”; “thu thập chứng cứ” và “kỹ năng thu thập chứng cứ”. Thứ nhất) về khái niệm “chứng cứ”.
Với vai trò là nền tảng cơ bản để giải quyết các VVDS, là yếu tố cốt lõi của quá trình chứng minh, khái niệm chứng cứ luôn giữ một vị trí quan trọng trong quy định của pháp luật TTDS của từng quốc gia. BLTTDS Nhật Bản quy định “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhân và là một tư liệu, CO’ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không'4. Khái niệm chứng cứ cũng được quy định tại Điều 55 BLTTDS Liên bang Nga, đó là “Chứng cứ trong VVDS là những gì được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà Tòa ản căn cứ vào đó đế xác định có hay không có các tĩnh tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay sự phản đổi yêu cầu của các bên cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa đế giải quyết đủng đắn vụ việc"1 2. Tại Điều 401 Luật Chứng cứ liên bang Mỹ quy định: “Chứng cứ là những gì hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hướng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn"3.
1 Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu và đào tạo (1998), Luật TTDS Nhật Bản, tr. 2 Bộ luật TTDS Liên bang Nga 2002 (2005), Nxb Tư pháp, tr. 7 Như vậy, có thê thây khái niệm chứng cứ trong hệ thông pháp luật TTDS của Nhật Bản và Mỹ có điểm tương đồng, đó là chứng cứ là cơ sở, căn cứ để Tòa án giải quyết vụ việc và khái niệm chứng cứ đã thể hiện tương đối đầy đủ các thuộc tính cùa chứng cứ. Khái niệm chứng cứ trong BLTTDS Liên bang Nga có sự gần gũi và tương đồng với khái niệm chứng cứ trong Giáo trình Luật TTDS Việt Nam.
Theo TS Nguyễn Công Bình: “Chứng cứ là cái có thật theo một trình tự do luật định được Tòa án dùng làm căn cứ đê giải quyết WDS. Quan điểm này cũng có nét tương đồng với khái niệm chứng cứ được ghi nhận trong từ điển giải thích thuật ngữ luật học đỏ là “Chứng cứ là những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật làm chứng, tài liệu tỏ rõ điều đó có thật nhấc4 5. Theo quan điểm trên, có thể thấy rằng chứng cứ - “cái có thật” là những tình tiết, sự kiện có thể được ghi lại trong trí nhớ của con người hoặc để lại dấu vết trên các tài liệu, đồ vật. Các tình tiết, sự kiện này được thể hiện trong lời trình bày của đương sự, người làm chứng là những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự kiện và xem xét các tài liệu, đồ vật có chứa đựng các tin tức, dấu vết liên quan đến sự kiện.
Từ các phân tích trên, có thế định nghĩa chứng cứ trong TTDS như sau: “Chứng cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật được đương sự, cá nhân, cơ quan, tô chức khác hoặc Tòa án thu thập theo một trình tự do pháp luật quy định dùng làm căn cứ đê giải quyết vụ việc dân sự được công hằng, khách quan, đủng pháp luật". Thứ hai, về khái niệm “thu thập chứng cứ”. Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì: “Thu thập” được hiểu là: “nhặt nhạnh, thu góp lại”6; “chứng cứ” được hiểu là: “những cái cụ thế như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó là có thật”7. Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ học thuần túy, thu thập chứng cứ là: “thu góp những vật chứng, tài liệu, những cái cụ thề như lời nói, việc làm nhằm làm sáng tỏ vụ việc đó là có thật”.
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngừ luật học, tr. 6 Nguyễn Như Ỳ (1988), Đại Từ điển Tiếng Viẹt, Nxb.
Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 7 Nguyền Như Ý (1988), Đại Từ điển Tiếng V/ẹí,Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 8 Hiện nay, trong khoa học pháp lý, có nhiêu quan điêm vê khái niệm thu thập chứng cứ.
Theo giáo trình Luật Tố tụng Dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội: “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự đê nghiên cứu, đánh giá và sử dụng đê giải quyết vụ. Với khái niệm này, thu thập chứng cứ được tiếp cận từ bàn chất việc dân sự”8910 và mục đích. Theo lý giải này, khái niệm đang hướng đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án. Tuy nhiên, khái niệm không nêu rõ chủ thể nào có quyền thu thập chứng cứ.
Theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Đại học Luật Hà Nội, khái niệm thu thập được hiểu là “hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm tìm phát hiện, thu giữ, ghì nhận thêm những bằng chứng cần thiết khác làm căn cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự”. Khái niệm này đã làm rõ chủ thể và phạm vi thu thập chứng cứ của Tòa án. Tuy nhiên, trong diễn giải khái niệm trên xuất hiện thuật ngữ “bằng chứng” dẫn đến việc việc khó phân biệt giữ thuật ngữ “chứng cứ” và “bằng chứng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, không nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể khác như đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Từ phân tích trên, có thể hiểu: Thu thập chứng cứ của Tòa án là việc Tòa án phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự đế nghiên cứu, đảnh giá và sử dụng đê giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tổ tụng dân sự. Thứ ba, về khái niệm “kỹ nàng thu thập chứng cứ”. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế”x{}. Ngoài ra, theo tác giả Vũ Dũng, kỹ năng “là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thê lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.
Còn theo Thái Duy 8 Trường Dại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tỏ tụng Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Đe tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề lý luận về chứng cứ và chứng minh trong tô tụng dân sự, Hà Nội, tr. 10 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, tr. 9 Tuyên, kỳ năng “là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”.
Mặc dù có những nhận định khác nhau về mặt thuật ngữ, nhưng chung nhất, kỳ năng được hiểu là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra. Tùy vào từng lĩnh vực mà chủ thể có thẩm quyền từ khả năng của mình sẽ áp dụng những tri thức cũng như phương pháp khác nhau để có thể đạt • được • mục • đích của hoạt • động • cụ• thể. Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: “Kỹ năng thu thập chứng cứ của Tòa án là khả năng, năng lực vận dụng hiểu biết, kiến thức pháp luật, kình nghiêm của thẩm phán hoặc hội đồng xét xử để tiến hành các biện pháp pháp lý dựa theo quy định của pháp luật, qua đó tập họp các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự đã được Tòa án thụ lỷ đê xây dựng, hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đảnh giả chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các đương sự”. Khái niệm kỹ năng đánh giá chứng cứ của Tòa án Nhân dân Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật là tiền đề để đánh giá chứng cứ đúng đắn, khách quan và toàn diện.
Vì vậy, đánh giá chúng cứ có vai trò rất quan trọng quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc. Để xây dựng khái niệm kỳ năng đánh giá chứng cứ cần làm rõ các khái niệm: “đánh giá chứng cứ” và “kỹ năng đảnh giá chứng cứ”. Xét về logic, đánh giá chứng cứ là một dạng “thao tác tư duy” của những người tiến hành tố tụng dân sự có thẩm quyền nhằm làm rõ giá trị chứng minh 12. Hiểu chung nhất, đánh giá chứng cứ là nhận định giá trị chứng của chứng cứ11 minh của chứng cứ thông qua quá trình nghiên cứu, xem xét, đối chiếu, so sánh giữa các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, xác định các chứng cứ có chứa đựng tình tiết khách quan, phản ánh đúng bản chất của sự việc.
Đánh giá 11 https://khoaluantotnghiep.com/khai-niem-ky-nang-la-gi/, ngày cập nhập: 15/08/217, ngày truy cập: ĩ 9/110/2020. 12 Nguyễn Ngọc Điệp (2019), “Phương pháp, kỹ năng nghiên cứu và đánh giá chứng cử trong TTDS và 26 án lệ của Hội đồng Thấm phán ”, NXB Hồng Đức, tr. 10 chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ việc bởi nếu đánh giá chứng cứ không đầy đủ, chính xác thì không thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc. Xét về thuật ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt, đánh giá ‘7ừ nhận định về giá trị”lĩ.
Hay theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, đánh giá chứng cứ “là hoạt động chứng minh nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ, là hoạt động của tất cả những người tham gia vào quá trình tổ tụng, nhưng chủ yểu vần là Tòa án. Khái niệm này chỉ rõ, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự có thế do chủ thể có nghĩa vụ chứng minh hoặc Tòa án thực hiện theo quy định của pháp luật.