Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KỸ NĂNG SỐNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu về kỹ năng sống trên thế giới Thuật ngữ “kỹ năng sống” được WinthropAdkins sử dụng lần đầu tiên trong một chương trình đào tạo nghề thực hiện trong những năm 1960.Vào cuối năm 1960, thuật ngữ “kỹ năng sống” được những nhà tâm lý học thực hành đưa ra và coi đó như là khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011). Năm 1989, Bộ Lao Động Mỹ thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết, nhằm mục đích “Thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”.
Đồng thời, các công trình nghiên cứu về các bộ chuẩn kỹ năng sống của trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Ở Mỹ, Bộ Lao động Mỹ và Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc (Nguyễn Hữu Long, 2016). Năm 1996, tại Mỹ La Tinh hội thảo về kỹ năng sống được tổ chức tại Costa Rica. Năm 1998, một hội thảo khác được tổ chức tại Mexico.
Colombia là một trong những quốc gia nhận được tài trợ lớn từ PAHO / WHO và các quốc gia khác để thực hiện chương trình này trên toàn hệ thống giáo dục quốc dân (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011). Tại vùng biển Caribe, Liên hợp quốc phối hợp với Đại học Tây Ấn, Bộ giáo dục và Bộ y tế đã điều hành dự án CARICOM nhằm đưa chương trình giảng dạy kỹ năng sống vào các bậc học: Mẫu giáo, tiểu học và trung học trên toàn vùng Caribe thông qua cách tiếp cận giáo dục sức khỏe và cuộc sống gia đình (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011). Luan van 6 Vào những năm 1990 - 2002, ở Úc Hội đồng Kinh Doanh Úc và Phòng thương mại và công nghiệp Úc với sự bảo trợ Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc cho xuất bản “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” gồm 8 kỹ năng mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có (Huỳnh Văn Sơn, 2009). Ở Canada, Bộ Phát triển Nguồn nhân lực và Kỹ năng Canada có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh giúp người lao động nâng cao chất lượng năng lực ra quyết định và năng suất làm việc nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống (Huỳnh Văn Sơn, 2009).
Từ năm 1966, Botswana và Nam Phi được sự hỗ trợ của trung tâm chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình “Growing up” (1996 – 1999) ra đời nhằm thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho một số trường tiểu học ở một số khu vực này. Cụ thể là Nepal, kỹ năng sống được xem là một phương thức để ứng phó hay những kỹ năng cần để tồn tại bao gồm: kỹ năng tồn tại; kỹ năng chung về giải quyết vấn đề; kỹ năng dịch chuyển tức là sự thích ứng với nghề nghiệp, kết hợp giữa kỹ năng tồn tại, kỹ năng chung và kỹ năng nghề nghiệp (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011). Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của tổ chức UNESCO, UNICEF, UNFPA, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Sri lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan, Myanmar, Đông Timor, Việt Nam) (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2011). Tại Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency).
WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) (Huỳnh Văn Sơn, 2009). Tại Lào, từ năm 1997 – 2002, lần đầu tiên việc giáo dục kỹ năng sống được thực hiện tại năm trường trung học cơ sở thuộc một tỉnh thành, sau đó Luan van 7 mở rộng ra 700 trường tiểu học và trung học thuộc 8 tỉnh, tuy nhiên nội dung chương trình chưa đề cập đến việc sử dụng thời gian mà tập trung vào kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề (Nguyễn Thanh Bình, 2007). Tại Campuchia, tìm việc, kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những kỹ năng quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn, quốc gia này cho rằng kỹ năng sống là năng lực cần phải có để nâng cao điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, trong đó bao gồm ba nhóm kỹ năng: kỹ năng chung, kỹ năng tiền nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp. Trong giáo dục kỹ năng sống, Campuchia đã đề ra những mục tiêu về việc tích hợp kỹ năng vào môn học, đồng thời các kỹ năng nghề được lựa chọn thực hiện dựa trên khả năng của từng trường (Nguyễn Thanh Bình, 2007).
Như vậy, từ năm 1960 đến nay, trên thế giới nói chung và ở Châu Á nói riêng, kỹ năng sống đã được triển khai đưa vào giáo dục ở các bậc học, cả trong giáo dục chính quy và không chính quy. Đồng thời, có rất nhiều nghiên cứu kỹ năng sống, đặc biệt chú trọng đến chương trình đào tạo, bộ chuẩn kỹ năng sống cho từng cấp bậc học. Một số nghiên cứu về kỹ năng sống trong nước Tại khoản 3 điều 39 mục 4 chương số 2 của Luật giáo dục được bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 đã nêu mục tiêu của giáo dục Đại học:“Đào tạo trình độ Đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo”, đồng thời tại khoản 2 điều 40 yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục Đại học trình độ cao đẳng, trình độ Đại học “phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Luan van 8 Thực hiện Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”; Quyết định số 410/QĐ-BGDĐT ngày 4/02/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; Triển khai Kế hoạch số 363/KH-BGDĐT ngày 6/6/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức biên soạn bộ tài liệu “Giáo dục đạo đức - lối sống văn hóa” và “Thực hành kỹ năng sống” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017).
Năm 2007, Nguyễn Thanh Bình sau khi tham gia dự án Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở đã cho ra đời “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” với nội dung chủ yếu về vấn đề đại cương và một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh (Nguyễn Thanh Bình, 2007). Một số bài báo viết về kỹ năng sống có giá trị thực tiễn và được nhiều người quan tâm như bài báo của tác giả Nguyễn Quang Uẩn “Khái niệm kỹ năng sống xét theo góc độ tâm lý học” trong tạp chí tâm lý học (Nguyễn Quang Uẩn, 2008). Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Oanh đã nghiên cứu, tìm hiểu và cho ra nhiều quấn sách về kỹ năng sống như: “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”, “10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”. Năm 2010, tác giả Nguyễn Hữu Long bảo vệ đề tài: “kỹ năng sống của học sinh Trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh”.
Sau đó, cuốn sách “Phát triển kỹ năng sống dành cho lứa tuổi thiếu niên” được xuất bản, nhằm xây dựng những định hướng tích cực để đưa kỹ năng sống vào giảng dạy tại các bậc học và góp phần nâng cao định hướng giá trị và tạo lập các hành vi phù hợp ở lứa tuổi thiếu niên. Năm 2009, Huỳnh Văn Sơn xuất bản cuốn sách “Nhập môn kỹ năng sống” và Trung tâm hộ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức diễn Luan van 9 đàn ”Những kỹ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên”, nhằm hỗ trợ kiến thức về một số kỹ năng sống và làm việc trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước. Năm 2011, Trần Thị Minh Hằng có một nghiên cứu về “Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên hiện nay” đã cho thấy việc hình thành kỹ năng sống cho sinh viên phải được chú trọng song song với việc hình thành kỹ năng nghề trong tương lai (Trần Thị Minh Hằng, 2011). Năm 2019, tác giả Lê Thị Thu Hà có nghiên cứu về “Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Đại học Hồng Đức”.
Qua nghiên cứu cho thấy rằng sự cần thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần được nhận thức đúng đắn và có những biện pháp nâng cao để sinh viên vững vàng trong học tập, cuộc sống và công việc (Lê Thị Thu Hà, 2019). Tác giả Đinh Thị Tình đã có đề tài nó về vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên năm nhất tại trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn. Trong nghiên cứu đã cho thấy rằng vai trò hết sức quan trọng và giữ vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp,… đối với mỗi cá nhân (Đinh Thị Tình, 2019). Nhìn chung, tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu kỹ năng sống, các nghiên cứu đã tập trung trên cả phương diện lý luận và ứng dụng thực tiễn cho từng độ tuổi, cấp học khác nhau.
Những nghiên cứu trên tạo điều kiện cho việc lựa chọn hệ thống kỹ năng sống vừa phù hợp với đặc điểm lứa tuổi vừa phù hợp với thực tiễn nền giáo dục, đáp ứng nguyên tắc dạy và học kỹ năng sống “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn và nhà trường gắn liền với xã hội”. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về kỹ năng Vấn đề kỹ năng đang nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Luan van 10 Có nhiều định nghĩa về kỹ năng được đưa ra, có thể sắp xếp các định nghĩa theo ba hướng chính: kỹ năng được xem là kỹ thuật của hành động; kỹ năng là năng lực của cá nhân trong hoạt động; kỹ năng là hành vi ứng xử của cá nhân.
Thuật ngữ kỹ năng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước. Mỗi quan niệm mang một ý nghĩa nhất định và thể hiện cụ thể lập trường của tác giả.