Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỷ XX, “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình giáo dục những giá trị sống với 12 giá trị cơ bản cần được giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [2]. Do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng được đông đảo các nước quan tâm.
Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người (tại Senegal năm 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp. Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải đánh giá KNS của người học.Mặc dù, giáo dục KNS cho trẻ đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ sở trong khi trong giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Từ năm 1997 tại Lào, KNS được thể hiện trong các ngữ cảnh cụ thể, liên quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, được lồng ghép vào chương trình giáo dục chính quy, không chính quy và các trường sư phạm đào tạo giáo viên.
Tại Campuchia có quan niệm KNS là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia. Trong chương trình giáo dục của Malaysia những năm gần đây, KNS được coi như là một môn học, mục tiêu của môn học này là cung cấp cho trẻ những kỹ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh. Tháng 12 năm 2003 tại Bali - Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục với sự tham gia của 15 nước. Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung, nhưng có những nét riêng trong giáo dục KNS: Thái Lan nhìn nhận một cách khái quát KNS là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc.
Quan niệm của Ấn Độ KNS là những khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người. Nepal thì coi KNS như là một phương thức để ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại. Tại Philipine KNS là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày [11]. Tổ chức Y tế Thế giới (viết tắt là WHO) định nghĩa: “Khả năng có hành vi thích ứng và tích cực giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức cuộc sống hàng ngày”.
Đồng thời, coi kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [34]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 1. Những nghiên cứu ở Việt Nam Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương tŕnh chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên.
Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn. Kể từ năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở tất cả các trường phổ thông trên toàn quốc, nhằm mang lại cho trẻ một môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội. Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục trung học phổ thông xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực.
Một trong những hoạt động đó là chương trình tập huấn giáo dục KNS và bình đẳng giới, được tổ chức tại Hà Nội tháng 10 năm 2008 cho các giáo viên cốt cán của một số trường trung học phổ thông thuộc 11 tỉnh phía Bắc trong đó có Tỉnh Thái Nguyên. Qua đợt tập huấn này, giáo viên biết cách hình thành cho trẻ các kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt mục tiêu, giáo viên biết cách giúp trẻ hiểu kỹ hơn về giới và bình đẳng giới cùng các tri thức thiết yếu để hiểu biết bản thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng đồng. Các chương trình giáo dục kĩ năng sống do Bộ Giáo dục & Đào tạo thực hiện: Ngay từ đầu những năm 90 tổ chức UNESCO đã có dự án dành cho nhóm hưởng lợi là phụ nữ biết đọc, biết viết hạn chế (từ năm 1990 - 1992). Chương trình xóa mù chữ và tăng thu nhập cho phụ nữ từ 1996 - 2000 do UNICEF tài trợ nhằm giáo dục kĩ năng sống cho phụ nữ miền núi.
Hiện nay chương trình này vẫn tiếp tục triển khai và mang tên là “Truyền thông và tăng thu nhập”. Chương trình hỗ trợ rủi ro, tai nạn cho trẻ em và phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long (do UNICEF hỗ trợ, 2000 - 2001). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Ngoài ra, còn có rất nhiều các chương trình giáo dục kỹ năng sống khác nữa do: Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em cũng như các chương trình giáo dục kĩ năng sống do các tổ chức quốc tế trực tiếp triển khai với các đối tác ở địa phương. Giáo dục kỹ năng sống là vấn đề cần thiết cho mọi đối tượng, ở mọi nơi.
Tuy nhiên do nhận thức, thiếu nguồn lực và kinh nghiệm nên việc triển khai giáo dục kĩ năng sống một cách có ý thức, có hệ thống và có hiệu quả ở Việt Nam còn hạn chế. Một số chương trình/ dự án do các tổ chức quốc tế triển khai ở Việt Nam có nội dung giáo dục kĩ năng sống hoặc tiếp cận kĩ năng sống chủ yếu hướng vào những nhóm đối tượng cho là có nguy cơ, còn thiếu kinh nghiệm đó là nhóm vị thành niên, nhóm yếu như phụ nữ và trẻ em gái, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Như vậy đối tượng được tiếp cận các chương trình giáo dục kĩ năng sống còn hạn chế, phiến diện. Trong lĩnh vực giáo dục chính quy với những đổi mới về nội dung và phương pháp đã khắc phục lối dạy truyền thụ kiến thức và lối học tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, mới chỉ làm thay đổi phương pháp tư duy cho trẻ, góp phần hình thành tư duy phê phán và tư duy sáng tạo - với tư cách cũng là kĩ năng sống.
Nhưng để giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả cần tăng cường tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống và tiếp cận kĩ năng sống trong dạy học hơn nữa. Rất tiếc là trong các mục tiêu và chương trình hành động giáo dục cho mọi người chưa đề cập chuyên biệt đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Mặc dù đã có tương đối nhiều chương trình, dự án thực hiện, triển khai và tài trợ trong việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng sống cho trẻ em nói riêng nhưng cho tới thời điểm hiện tại có rất ít các công trình nghiên cứu mang tính khoa học về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cũng như nhu cầu được giáo dục kỹ năng sống của trẻ mầm non. Tác giả Nguyễn Thanh Bình “Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2011 [2].