Mở đầu”,"Kết luận" và "Tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2 - Thiết kế và tổ chức một số hoạt động mô hình hóa trong dạy học chủ đề hàm số lớp 10 Chƣơng 3 - Thực nghiệm sƣ phạm 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Mô hình a) Một số quan niệm và biểu đạt khác nhau về mô hình: Mô hình theo Swetz và Hartzler là một mẫu đại diện, mẫu minh hoạ đƣợc thiết kế để mô tả cấu trúc, cách vận hành của một sự vật hiện tƣợng, một hệ thống hay một khái niệm. Về mặt trực giác, mô hình thƣờng đƣợc nghĩ theo ý nghĩa vật lý.
Về mặt nhận thức, mô hình là sản phẩm của quá trình tƣ duy, ra đời nhờ quá trình trừu tƣợng hóa các đối tƣợng cụ thể. Đối tƣợng nghiên cứu đã đƣợc lí tƣởng hóa. - Sử dụng mô hình là đối tƣợng trung gian dùng để nghiên cứu đối tƣợng (vật gốc) nhằm một mục đích nào đó. Cũng cần lƣu ý rằng: Mô hình có thể ở dạng đồ vật cụ thể, cũng có thể ở dạng sơ đồ, hình ảnh.
đôi khi đƣợc biểu đạt một cách trừu tƣợng hơn thông qua sự mô tả. (ví dụ mô hình tài chính, mô hình kinh tế, mô hình chính trị. Thông qua những mô hình, ta có thể thao tác và khám phá các thuộc tính của đối tƣợng mà không cần đến (toàn bộ) sự vật thật. Điều đó phụ thuộc vào ý đồ của ngƣời thiết kế mô hình và bối cảnh áp dụng của mô hình.
Tóm lại, mô hình đƣợc dùng để mô tả một đối tƣợng thực tiễn nào đó, song mô hình không thể thay thế cho vật mẫu. b) Đặc trưng của mô hình: - Mô hình phải bảo toàn đƣợc các mối quan hệ cơ bản của vật gốc, tức là mô hình phải đồng cấu hay đẳng cấu với vật gốc. - Mô hình là sản phẩm của quá trình trừu tƣợng hóa những đối tƣợng cụ thể nên mang tính khái quát, lí tƣởng. 7 - Mô hình chỉ phản ánh đến một mức độ, một số mặt nào đó của vật gốc nên không thể thay thế vật gốc.
- Mô hình không bất biến do nó phản ánh thực tiễn luôn vận động và biến đổi. Mô hình hóa trong toán học a) Mô hình toán học Trong toán học, một mô hình toán học (hiểu theo nghĩa rộng) là mô hình trừu tƣợng ở đó ngƣời ta sử dụng ngôn ngữ toán học để diễn đạt một hệ thống nào đó trong hiện thực khách quan. Tiếp cận mô hình theo nghĩa hẹp, Berinderjeet Kaur cho rằng: Mô hình toán học có thể là các sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ, bảng biểu, biểu tƣợng, hàm số, đồ thị,. Mặt khác, “mô hình toán học” gọi tắt là “mô hình” đôi khi đƣợc GV dùng theo nghĩa hẹp: chỉ đơn giản là một mô hình vật chất dưới dạng đồ dùng DH Toán cụ thể hoặc phần mềm toán học (trừu tƣợng) để phản ánh những đối tƣợng toán học cụ thể nhƣ đồ thị hàm số, mặt phẳng, đƣờng thẳng, khối đa diện, hình học không gian.
Khi đó, cái cụ thể thể hiện ở mô hình này sẽ phản ánh một phần những yếu tố của loại mô hình toán học trừu tƣợng, tổng quát kể trên. GV cần chú ý để phân biệt với đồ dùng DH (trong đó có cả mô hình thu gọn, .) ở môn học khác: Với đặc thù trừu tƣợng cao độ, cho dù có ở dạng đồ vật cụ thể, sử dụng ngôn ngữ toán học hay là mô hình ảo trên máy vi tính. để mô tả về đối tƣợng toán học thì mô hình thực chất cũng chỉ mang tính tƣợng trƣng. Trong khi đó ở các bộ môn Vật lý, Hóa học, Sinh học,.
thì mô hình (kể cả thu gọn) hầu hết lại phản ánh sự vật, hiện tƣợng có thật trong cuộc sống, đƣợc xây dựng trên các tình huống thực tiễn. b) Mô hình hóa Mô hình hóa là quá trình tạo ra các mô hình để giải quyết vấn đề nào đó xuất phát từ tình huống thực tiễn. 8 Trong sản xuất (hoặc kinh doanh) mặt hàng quần áo, giày dép, mỹ phẩm, hàng tạp hóa,…ngƣời ta thƣờng quan tâm đến các con số trung bình tiêu hao nguyên liệu, năng suất và sản lƣợng, lợi nhuận,. trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm).
Trong thực tế, nhiều khi ngƣời ta lại không quan tâm đến kích cỡ của quần áo, giày dép, thậm chí không tính trung bình các con số này. mà với mục đích tăng trƣởng lợi nhuận trong sản xuất, kinh doanh thì cứ loại nào bán đƣợc nhiều nhất sẽ đầu tƣ sản xuất nhiều (hoặc nhập hàng về nhiều). Câu hỏi đặt ra là loại (kích cỡ) nào cần nhiều nhất? Điều đó đƣợc toán học phản ánh thông qua phần thống kê, mô hình dãy số liệu, bảng thống kê, các tham số thống kê nhƣ “trung bình cộng”, “tần số”, “tần suất”, “mode”, … c) Mô hình hóa toán học Khái niệm mô hình hóa toán học đƣợc Edwards và Hamson (2001) đƣa ra chính là quá trình chuyển đổi từ một vấn đề thực tế sang một vấn đề toán học thông qua việc thiết lập và giải quyết các mô hình toán học, thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế, cải tiến mô hình nếu cách giải quyết không thể chấp nhận. Theo tài liệu của Nguyễn Danh Nam [26, tr.16] về mô hình hóa toán học: “Để vận dụng kiến thức toán học vào việc giải quyết những tình huống của thực tế, ngƣời ta phải toán học hóa tình huống đó, tức là xây dựng một mô hình toán học thích hợp cho phép tìm câu trả lời cho tình huống.
Quá trình này đƣợc gọi là mô hình hóa toán học.” Vậy mô hình hóa toán học chính là quá trình giải quyết vấn đề thực tế bằng công cụ và ngôn ngữ toán học. Vấn đề của tình huống thực tiễn đƣợc chuyển đổi sang vấn đề toán học một cách phù hợp và ngƣợc lại. Trong DH toán, mô hình hóa thƣờng đƣợc sử dụng theo hai mục đích sau: 9 - Mô hình hóa để học toán: Mô hình hóa là một phƣơng tiện hỗ trợ việc học các khái niệm và quá trình học toán của HS, chẳng hạn nhƣ tạo động cơ giúp hình thành và hiểu một khái niệm hoặc minh họa các nội dung toán học trừu tƣợng, phức tạp. - Học toán để mô hình hóa: Mô hình hóa là một mục đích của việc học toán, nhằm trang bị cho HS các NL để có thể sử dụng toán trong nhiều ngữ cảnh và tình huống bên ngoài lớp học.
Trong luận văn này, tôi tiếp cận MHHTH với mục đích: coi đây là một hoạt động của HS cần thiết để hỗ trợ quá trình học chủ đề hàm số lớp 10 ở trƣờng THPT. Năng lực mô hình hóa (modeling) Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về năng lực MHH toán học đƣợc chia sẻ trong lĩnh vực giáo dục. Theo quan điểm về năng lực MHH toán học của Bloomhoj và Jensen nhƣ sau: Năng lực MHH là khả năng thực hiện đầy đủ các giai đoạn của quá trình MHH trong một tình huống cho trƣớc [6]. Các biểu hiện của năng lực MHH đƣợc thể hiện qua việc: [7] + Xác định đƣợc mô hình toán học cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn (gồm công thức, phƣơng trình, bảng biểu, đồ thị,…).
+ Giải quyết đƣợc các vấn đề toán học trong mô hình đƣợc thiết lập. + Thể hiện và đánh giá đƣợc lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến đƣợc mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. Đối với HS trung học phổ thông, năng lực MHH thể hiện thông qua việc: + Thiết lập đƣợc mô hình toán học (gồm công thức, phƣơng trình, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ…) để mô tả tình huống đặt ra trong một số bài toán thực tiễn; + Giải quyết đƣợc những vấn đề toán học trong mô hình đƣợc thiết lập; + Lí giải đƣợc tính đúng đắn của lời giải (những kết luận thu đƣợc từ các tính toán là có phù hợp với thực tiễn hay không). Đặc biệt, nhận biết đƣợc cách đơn giản hóa, cách điều chỉnh những yêu cầu thực tiễn (xấp xỉ, thêm giả thiết, tổng quát hóa…) để đƣa đến những bài toán giải đƣợc.
Kỹ năng mô hình hóa Năng lực MHH toán học có nhiều kỹ năng thành phần. Nhiều nhà nghiên cứu đã thiết kế hệ thống các tình huống và bài tập mô hình hóa dành cho các đối tƣợng trung học phổ thông để xác định những kỹ năng mà học sinh cần đạt đƣợc để giải quyết tình huống thực tiễn dựa theo quy trình MHH. Từ đó, các nghiên cứu đã chỉ ra các kỹ năng thành phần của năng lực MHH toán học đó là: (1) Đơn giản giả thuyết (2) Làm rõ mục tiêu (3) Thiết lập vấn đề (4) Xác định biến, tham số, hằng số (5) Thiết lập mệnh đề toán học (6) Lựa chọn mô hình (7) Biểu diễn mô hình thích hợp (8) Liên hệ lại vấn đề trong thực tiễn. Từ những mô tả trên, để rèn luyện kỹ năng mô hình hóa cho HS trong dạy học chủ đề hàm số lớp 10 tác giả viết đề tài chọn phân tích các kỹ năng sau: Kỹ năng 1: Thiết lập mô hình toán học Học sinh hiểu đƣợc vấn đề thực tiễn, xác định các giả thuyết để đơn giản hóa vấn đề, mô tả và thể hiện vấn đề bằng công cụ và ngôn ngữ toán học.
Xác định các khái niệm, các biến số, mối liên hệ giữa các biến, từ đó biểu diễn vấn đề dƣới ngôn ngữ toán học. Quá trình này là quá trình chuyển đổi từ thực tiễn sang toán học. Gọi là thiết lập mô hình toán học. Khả năng phát hiện ra yếu tố trọng tâm của tình huống thực tiễn; Khả năng biểu diễn các đại lƣợng thực tế bằng ngôn ngữ toán học; Khả năng biểu đạt các mối quan hệ giữa các đại lƣợng bằng các mệnh đề toán học, các biểu thức chứa biến, đồ thị, biểu đồ,…; Khả năng khái quát hóa tình huống thực tiễn theo quan điểm của toán học.
11 Kỹ năng 2: Kỹ năng sử dụng mô hình và giải quyết được các vấn đề toán học trong mô hình đã được thiết lập. Khả năng giải toán trên mô hình, dựa vào lời giải bài toán nêu ra đƣợc kết quả của mô hình; Khả năng biến đổi mô hình toán học theo ý cá nhân; Khả năng dùng mô hình phán đoán tình huống thực tiễn. Kỹ năng 3: Thể hiện được lời giải toán học vào ngữ cảnh thực tiễn và làm quen với việc kiểm chứng tính đúng đắn của lời giải.