đặt vấn đề: So với việc hình thành kĩ xảo thì các kĩ năng có tính chất “nguyên sinh” hay “thứ sinh”? Vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Nhà tâm lý học thể thao Liên Xô P.Rudic cho rằng kĩ năng có tính chất “nguyên sinh”. Ngƣợc lại, A. Itelxon lại xếp kĩ năng vào các quá trình “thứ sinh” có cơ sở là các kĩ xảo.
Một số khác lại phân loại kĩ năng thành: kĩ năng ban đầu (sơ đẳng) là cơ sở xuất phát để hình thành kĩ xảo, kĩ năng phức tạp (kĩ năng phát triển) đƣợc nảy sinh trên cơ sở kĩ xảo đã có. Tác giả Đào Thị Oanh cho rằng, khác với kĩ năng, kĩ xảo là những hành động đã trở nên tự động hóa do luyện tập. Kĩ xảo không thể đƣợc hiểu nhƣ hành động tự thân mà nhƣ một mối quan hệ phức tạp với môi trƣờng xung quanh. Tính ổn định tƣơng đối của kĩ xảo có đƣợc là nhờ xuất phát từ tính ổn định tƣơng đối của một số ảnh hƣởng nhất định từ môi trƣờng bên ngoài.
Trên thực tế ta có thể thấy ở các hành động đơn giản có tính chất thao tác thì các kĩ năng cơ sở, kĩ năng bậc thấp có trƣớc làm cơ sở cho việc hình thành kĩ xảo. Đối với hành động phức tạp thì kĩ năng phát triển phải dựa trên một số kĩ năng bậc thấp và một số kĩ xảo nào đó. Đó là kĩ năng bậc cao. Các kĩ năng này khó có thể trở thành kĩ xảo.
Hệ thống hành động phức tạp đòi hỏi sự sáng tạo, đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của ý thức con ngƣời vào công việc mới có thể hoàn thành đƣợc chúng. Nếu lặp đi lặp lại nhiều thì có thể ở một số khâu nào đó có những dấu hiệu của kĩ xảo, còn toàn bộ hệ thống vẫn có thể ở mức kĩ năng nhƣng đƣợc củng cố nên trở nên ổn định và vững chắc. Kĩ năng phức tạp, kĩ năng cấp cao không tự động hóa nhƣ kĩ xảo. Nó đƣợc hình thành không chỉ dựa vào sự luyện tập đặc biệt mà chủ yếu dựa vào các kiến thức, kinh nghiệm và một số kĩ năng sơ đẳng, một số kĩ xảo trƣớc đó nhờ việc thực hiện các hành động 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỹ năng học tập của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ tƣơng tự.
Kĩ năng và kĩ xảo phát triển trong mối quan hệ khăng khít với nhau. Một mặt, việc nắm vững một loạt kĩ xảo cần để hình thành kĩ năng. Mặt khác, ngƣời có kĩ năng, có thể nắm vững kĩ xảo mới dễ dàng hơn. Khi tìm hiểu mối quan hệ giữa kĩ năng và năng lực, chúng tôi tìm hiểu khái niệm về năng lực.
Năng lực theo Nguyễn Quang Uẩn đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”. Nghĩa là với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, mỗi cá nhân phải có năng lực phù hợp với hoạt động ấy. Trong mối quan hệ giữa kĩ năng với năng lực, các nhà tâm lý học xác định kĩ năng là một biểu hiện rất quan trọng của năng lực. Kĩ năng chính là năng lực thực hành – năng lực tác động trực tiếp vào đối tƣợng của hoạt động tạo ra sản phẩm của hoạt động.
Kĩ năng giúp con ngƣời làm việc có hiệu quả về một hành động nào đó; năng lực thể hiện con ngƣời đó có những kĩ năng để làm việc hiệu quả cao trong hoạt động bao gồm các hành động đó. Kĩ năng xét cho cùng là một trong những điều kiện cần thiết để tạo nên năng lực. Muốn có năng lực, trƣớc hết phải nắm vững tri thức về từng công việc, cách thức, điều kiện thực hiện công việc, nghĩa là phải có các kĩ năng thực hiện toàn bộ công việc đó. Kĩ năng học tập 2.
Khái niệm về học tập Trƣớc hết cần phân biệt hai khái niệm "học" và "hoạt động học". Theo khái niệm chung nhất, học có nghĩa là quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội lịch sử loài ngƣời, theo nghĩa này ngƣời ta phân ra 2 hoạt động học khác nhau. + Hoạt động học không chủ định + Hoạt động học có chủ định Nhƣ vậy, hoạt động học là hoạt động đặc thù của con ngƣời đƣợc điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những phƣơng thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định. Chỉ có thông qua hoạt 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỹ năng học tập của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ động học có chủ định, chủ thể mới hình thành cho mình những tri thức khoa học cũng nhƣ cấu trúc tâm lý tƣơng ứng của hoạt động tâm lý và sự phát triển toàn diện nhân cách.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập: - A.Encônhin nêu lên việc lĩnh hội tri thức là nội dung cơ bản của hoạt động học tập và đƣợc xác định bởi cấu trúc và mức độ phát triển cuả hoạt động học tập.Intenxơn xác định học tập là loại hoạt động đặc biệt của con ngƣời có mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi. Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiên - A.Talƣdina xem quá trình học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy đƣợc biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động đó.Cudơmina coi học tập là loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của cán bộ giảng dạy. Trong quá trình đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành đƣợc một hoạt động nghề nghiệp tƣơng lai. Mặc dù chƣa có sự thống nhất hoàn toàn nhƣng các tác giả trên đều xem xét hoạt động học tập hoặc có liên quan tới nhận thức hay liên quan tới tƣ duy và liên quan đến nghề nghiệp.
Mỗi định nghĩa đều đề cập tới một khía cạnh của hoạt động học theo quan điểm của tác giả nhƣng tựu trung lại hoạt động học là hoạt động có mục đích tự giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tƣ duy. Tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia đƣa ra 5 vấn đề cơ bản nói lên bản chất hoạt động học tập. + Đối tƣợng của hoạt động học tập là các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. + Mục đích của hoạt động học tập này hƣớng vào làm thay đổi chính chủ thể hoạt động.
24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỹ năng học tập của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ + Hoạt động học tập không phải là hoạt động chỉ tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn hƣớng vào việc tiếp thu chính những tri thức của bản thân hoạt động (những hành động học tập đạt hiệu quả cao) Và nhƣ vậy, hoạt động học tập của sinh viên cũng mang những dấu hiệu bản chất nhƣ đã nêu trên. Từ đó có thể định nghĩa hoạt động học tập của sinh viên nhƣ sau: Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý đƣợc tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành ngƣời chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ. Những đặc trƣng cho hoạt động này là sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ, trong đó bao gồm các quá trình tâm lý cấp cao, các hoạt động khác nhau và nhân cách ngƣời sinh viên nói chung. Đặc điểm chung của hoạt động học tập của sinh viên.
+ Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ. Bản chất của hoạt động nhận thức của ngƣời sinh viên trong các trƣờng đại học, cao đẳng là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm đƣợc đối tƣợng, nhiệm vụ, phƣơng pháp, quy luật của các khoa học đó, cùng với mục đích trở thành những chuyên gia trong các lĩnh vực nhất định. Do vậy, họ một mặt phải kế thừa có tính chất hệ thống những thành tựu đã có, một mặt phải tiệm cận với những thành tựu khoa học đƣơng đại, cập nhật tính thời sự để nhằm mục đích hoạt động học tập có kết quả cao nhất. + Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, có nội dung, chƣơng trình và phƣơng thức, phƣơng pháp đào tạo theo một thời gian, cách thức chặt chẽ nhƣng không đồng thời quá khép kín, quá câu nệ mà lại có tính mở rộng theo khả năng, năng lực nhận thức, sở trƣờng của sinh viên.
+ Phƣơng tiện của hoạt động học tập của sinh viên là các thƣ viện, phòng đọc, phòng học, phòng thực nghiệm, sách, vở….Do đó, phạm vi hoạt động học 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỹ năng học tập của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ tập của sinh viên vừa đa dạng, vừa giúp sinh viên rèn luyện đựơc những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy đựơc việc học nghề một cách rõ rệt. + Hoạt động học tập của sinh viên mang tính tự lập, độc lập, sáng tạo cao. Hoạt động tƣ duy của sinh viên trong quá trình học tập chủ yếu là theo hƣớng phân tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoa học + Điều rất quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên là phƣơng pháp học tập. Phƣơng pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành mà sinh viên theo học.
Không tìm đƣợc phƣơng pháp học tập tốt, sinh viên không thể đạt đƣợc kết quả học tập nhƣ ý muốn bởi hàm lƣợng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà sinh viên phải lĩnh hội đƣợc trong quá trình học tập là rất lớn, đa dang. Cấu trúc của hoạt động học tập bao gồm các thành tố: Động cơ học tập - Nhiệm vụ học tập – Các hành động học tập. Động cơ học tập chính là nôi dung tâm lý của hoạt động học tập. Động cơ này bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
Có thể là những yếu tố tâm lý của chính chủ thể nhƣ: hứng thú, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, lý tƣởng sống….cũng có thể là những yếu tố nằm ngoài chủ thể nhƣ: yêu cầu của gia đình, xã hội.