đặt vấn đề kỹ năng là chìa khoá của mọi thành công, trong đó, ông đề cập hai nhóm kỹ năng cơ bản và đặc thù nghề nghiệp đồng thời đưa ra một số trắc nghiệm về kỹ năng đó. Ông đưa ra nội hàm của một số kỹ năng như: Kỹ năng tư duy, kỹ năng sống trong cộng đồng, các kỹ năng động cơ,.Cũng theo ông, kỹ năng lãnh đạo phải bao gồm nội dung: Giao tiếp bằng ý nghĩ và cảm xúc để chứng tỏ vị trí của bạn; khuyến khích hay thuyết phục một cá nhân hay nhóm; sử dụng một cách tích cực những nguyên tắc và giá trị mà người khác tuân theo. và Len King, khi đề cập kỹ năng của giáo viên, coi kỹ năng là năng lực thực hành của giáo viên. Các tác giả này chia kỹ năng dạy học ra thành ba nhóm tương ứng với ba giai đoạn của quá trình tự học: Nhóm kỹ năng xây dựng chương trình giảng dạy, nhóm kỹ năng giảng dạy và nhóm kỹ năng đánh giá.
Các nhóm kỹ 8 năng này của giáo viên khi tương tác với học sinh sẽ giúp chúng phát triển các nhóm kỹ năng tương tự. Gônôbolin, trong tác phẩm Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên đã đưa ra danh mục 10 nhóm năng lực sư phạm mà người giáo viên cần có, tuy nhiên, tác giả lại chưa chỉ rõ được sự khác biệt giữa các nhóm năng lực dạy học và các nhóm năng lực giáo dục [38, tr. - Hướng nghiên cứu về kỹ năng học tập Đây là hướng nghiên cứu dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, cụ thể như sau: V.Tsebưseva nghiên cứu sâu về kỹ năng lao động bà đã có nhận định rất quan trọng được thực tế kiểm nghiệm và được nhiều người thừa nhận. Bà cho rằng, khi huấn luyện kỹ năng nên rút dần vai trò của người dạy, người học sẽ hình thành kỹ năng nhanh chóng và ổn định hơn [Dẫn theo 112, tr.Kixegov nghiên cứu kỹ năng hoạt động sư phạm của sinh viên.
Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa kỹ năng hoạt động sư phạm với kỹ năng lao động sản xuất về quá trình hình thành, nhất là về đối tượng hoạt động. Ông đã chia quá trình hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm thành 5 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Giới thiệu cho sinh viên về những hoạt động sắp phải thực hiện như thế nào. - Giai đoạn 2: Trình bày, diễn đạt các quy tắc lĩnh hội hoặc tái hiện lại những hiểu biết cơ bản, nền tảng mà dựa vào đó kỹ năng, kỹ xảo được hình thành. - Giai đoạn 3: Trình bày mẫu hành động.
- Giai đoạn 4: Sinh viên tiếp thu hành động qua thực tiễn. - Giai đoạn 5: Đưa ra hệ thống các bài tập độc lập [59]. Các hướng nghiên cứu trên thế giới về giao tiếp Là một phạm trù trung tâm trong tâm lý học, giao tiếp đã được đề cập từ rất lâu, thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung và các nhà tâm lý học nói riêng tập trung nghiên cứu. Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học như: Platon (428-347, Socrat (460-399) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người [dẫn theo 71].
Sang thế kỷ XVIII, nhà triết học Hà Lan M. Hemxtec - Lôxis trong tiểu luận “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác” đã quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người - mối quan hệ giữa cái tôi với 9 cái tôi khác [dẫn theo 71]. Thế kỷ XIX, C. Mác trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học” đã có tư tưởng về nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người, coi giao tiếp như là “khí quan xã hội”, thông qua giao tiếp con người có thái độ đối với chính bản thân mình và đối với người khác.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Ănghen nhấn mạnh về sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của giao tiếp trong sự hình thành bản chất xã hội của con người [76]. Đa phần các quan điểm về giao tiếp mang nặng tính triết học, giao tiếp chưa thực sự được nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học. Đầu thế kỷ XX, các nhà tâm lý học Liên Xô đã nghiên cứu về bản chất quá trình giao tiếp, các vấn đề lý luận về giao tiếp nói chung. Từ đây, giao tiếp mới thực sự được nghiên cứu như một vấn đề tâm lý học.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về giao tiếp được chia thành hai hướng: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giao tiếp và nghiên cứu những vấn đề giao tiếp ứng dụng. * Hướng thứ nhất: Nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp Ở hướng nghiên cứu về giao tiếp lý luận có thể phân thành 4 nhóm chính: - Nhóm thứ nhất: Coi giao tiếp là một dạng hoạt động hay là điều kiện, phương thức của hoạt động. Điển hình cho quan điểm này là A. Ông cho rằng: “Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực chủ thể và khách thể” và “Hoạt động của chủ thể cùng với những động cơ, mục đích, phương tiện tương ứng trở thành khâu trung gian cho mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể ” [65].
Như vậy, theo A.Lêônchiev giao tiếp chính là một dạng hoạt động mà trong đó đối tượng của giao tiếp chính là con người – một chủ thể khác, kết quả là tạo ra sự thay đổi về cả hai chủ thể. Sự phân loại hoạt động giao tiếp của A.Lêônchiev cho thấy không có tiêu chí chung cho việc xác định chủ thể và khách thể của hoạt động giao tiếp.Lômôv nhận xét rằng: Giao tiếp không được làm rõ bởi sơ đồ chủ thể - động cơ - đối tượng (khách thể) của hoạt động [73]. Ông đã “Ghép mọi sự đa dạng của đời sống con người vào một phạm trù - là phạm trù hoạt động” [73]. Điều này chứng tỏ rằng việc “biến đổi” và “mở rộng” quan điểm về giao tiếp của A.Lêônchiev vẫn bộc lộ sự bất ổn.
- Nhóm thứ hai: Nghiên cứu theo quan điểm coi giao tiếp là một phạm trù 10 độc lập với hoạt động. Người khởi xướng là B.Lômôv, “Giao tiếp là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể”, “Giao tiếp là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này và người khác như là tác động qua lại của các chủ thể” [73].Lômôv đã chỉ ra, nếu theo quan điểm của A.Lêônchiev, khách thể hoạt động giao tiếp là con người; nói cách khác, một cá nhân có thể vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động giao tiếp. Nhưng khách thể này - theo B.Lômôv - lại hết sức đặc biệt, vì mỗi người khi tham gia giao tiếp sẽ quan hệ với người cùng giao tiếp với mình với tư cách là một chủ thể có tâm lý ý thức. Bởi thế “Việc đặt hoạt động trong quan hệ với nó ngang hàng các khách thể “khô khan” (vật chất) là việc làm rất khó khăn”.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, nếu xét theo tiêu chí hoạt động thì khó có thể xác định được kết quả giao tiếp, vì kết quả này ở các cá nhân khác nhau có thể rất khác nhau về số lượng và chất lượng; thậm chí đôi khi “chỉ với một thời gian giao tiếp ngắn ngủi với người này hoặc người khác (hoặc nhóm người) có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cá nhân nhiều hơn rất nhiều so với thực hiện lâu dài một hoạt động có đối tượng nào đó của người đó”.Lômôv một trong những đặc trưng cơ bản của giao tiếp là “truyền đạt - nhận thông tin”; “quá trình giao tiếp là quá trình trao đổi các ý đồ, các tư tưởng, các hình tượng…” [73]. Chính trong giao tiếp các chủ thể giới thiệu cho nhau các kết quả của phản ánh tâm lý. Khi nhấn mạnh những khác biệt về chất giữa giao tiếp và hoạt động B.Lômôv không đối lập hai phạm trù này với nhau.Lômôv, giao tiếp và hoạt động “gắn bó mật thiết với nhau”, “chúng có thể chuyển tiếp và chuyển hoá” từ mặt này vào mặt khác. “Giao tiếp có thể đóng vai trò tiền đề, điều kiện, là yếu tố bên ngoài và bên trong của hoạt động và ngược lại”.
“Trong một vài hoạt động với tư cách là phương tiện và các phương thức của hoạt động, các phương tiện và phương thức của giao tiếp đã được sử dụng, mà chính hoạt động được xây dựng theo các quy luật của giao tiếp. Trong những trường hợp khác, các hoạt động này hoặc khác được sử dụng với tư cách là các phương tiện và phương thức của giao tiếp và ở đây giao tiếp được xây dựng theo các quy luật của hoạt động (chẳng hạn: hành động biểu tình, tuần hành, biểu diễn trên sân khấu)” [73].Lômôv khẳng định rằng, giao tiếp của con người chịu sự quy định của những yếu tố xã hội như: chức năng, vị trí xã hội của con 11 người, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức, những thiết chế xã hội, v.Lômôv đã khắc phục những hạn chế của quan điểm coi giao tiếp là một loại hình hoạt động của A. Tuy nhiên, ông chưa giải thích được ảnh hưởng, vai trò của giao tiếp đối với tâm lý. - Nhóm thứ ba: Giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận thông tin.
Nhà điều khiển học Wiener vào năm 1947 đã xây dựng mô hình giao tiếp dựa trên lý thuyết thông tin “lý thuyết về sự truyền thông tin ở các phức hệ có khả năng tự kiểm tra, về các giá trị mang thông tin được tạo thành từ các từ, các dấu hiệu, các tín hiệu”. Ông nhấn mạnh khái niệm “thông tin phản hồi”, nhấn mạnh sự điều chỉnh cần thiết đối với “bản thông điệp” của quá trình giao tiếp [dẫn theo 67, tr18]. Trong “Lý thuyết toán học trong giao tiếp”, C.Senen đã đưa ra sơ đồ “hệ thống tổng hợp trong giao tiếp” bao gồm các yếu tố: + Nguồn gốc thông tin và người truyền đạt nó (máy phát); + Địa điểm thông tin và máy thu; + Kênh liên lạc (phương tiện truyền tải thông tin từ máy phát đến máy thu - radio); + Nguyên nhân tiếng ồn (khi phát tin) [96].Laswell đã đưa ra mô hình giao tiếp gồm: + Ai (truyền thông tin) - Người nhận thông tin; + Cái gì (được truyền đạt) - Thông báo; + Như thế nào (việc truyền đạt được thực hiện) - Kênh liên lạc; + Cho ai (thông tin hướng đến) - Người nhận; + Với tác dụng gì - tính hiệu quả. Ngoài ra, có thể kể đến hàng loạt các nghiên cứu khác về giao tiếp theo hướng này.
Chẳng hạn Perdonici, cho rằng “Giao tiếp là một sự trao đổi hai chiều, một quá trình khép kín”.