Chương 1: Cơ sở khoa học về kỹ năng giao tiếp hành chính của cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân. Chương 2: Thực trạng về kỹ năng giao tiếp hành chính của cán bộ, chiến sỹ công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kỹ năng giao tiếp hành chính của cán bộ, chiến sỹ Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP HÀNH CHÍNH CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CÔNG AN NHÂN DÂN 1.
NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Kỹ năng Kỹ năng (Tiếng Anh: Skill; Tiếng Pháp: Capacité) là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý và giao tiếp. Kỹ năng là một vấn đề phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau, về vấn đề này. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [31].
Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Khi nói đến người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả tốt. Ngoài ra, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế một cách phù hợp và hiệu quả nhất. Về vấn đề này, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều định nghĩa theo hướng nghiên cứu riêng của mình.
Như cách tiếp cận của tác giả Ph.Gônôbôlin cho rằng “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó, các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo, những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động” [33]. Có thể hiểu quan niệm thì kỹ năng là sự vận dụng tri thức đã có thể lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra, hay kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hình thức vận động cụ thể, mà 11 còn là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ. Do đó, kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người, kỹ năng theo quan điểm này vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và cả tính mục đích. Đối với các tác giả trong nước thì tiếp cận về vấn đề kỹ năng theo một góc độ riêng, đối với tác giả Vũ Dũng đề cập trong cuốn từ điểm tâm lý học của mình thì “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [11].
Cho thấy rằng, kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động, mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định. Còn đối với tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì cho rằng “kỹ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình” [39]. Qua đó cho thấy rằng, kỹ năng được hiểu là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định, đối tượng của kỹ năng là hoạt động, hành động.
Ngoài ra, kỹ năng là mức độ cao của tính đúng đắn, thành thạo và tính sáng tạo của việc triển khai hành động trong thực tiễn. Như vậy, từ khái niệm trên cho thấy rằng, kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hành động của cá nhân, luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đã đặt ra. Ngoài ra, kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lý khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân. để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy 12 định.
Kỹ năng là một vấn đề phức tạp và được các nhà nghiên cứu bàn luận khá nhiều. Kỹ năng là tri thức trong hành động, là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong lĩnh vực nào đó vào thực tế và khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những kiến thức có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra phù hợp với mục tiêu và điều kiện cho phép. Tóm lại, qua các phân tích nêu trên, theo tác giả kỹ năng là khả năng của mỗi cá nhân sử dụng, vận dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thực tiễn để đạt được hiệu quả. Giao tiếp Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm, hạt nhân của tâm lý học và tư tưởng về giao tiếp cũng đã được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX thì đã hình thành nên một ngành tâm lý học giao tiếp.
Vào thời kì này, vấn đề giao tiếp ngày càng được các nhà triết học, tâm lý học, xã hội học quan tâm nhiều hơn. Cho đến nay, định nghĩa về giao tiếp của các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn về quan niệm, tư tưởng. Khi giao tiếp là một dạng hoạt động không thể thiếu được trong đời sống của con người, các quan hệ giao tiếp luôn vận động trong mọi hoạt động của con người. Giao tiếp là biểu hiện của quan hệ xã hội, mang tính chất quan hệ xã hội được thực hiện giữa con người với con người.
Giao tiếp là hai từ không còn xa lạ gì trong xã hội ngày nay, được đề cập rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động học tập, trong công việc. Giao tiếp là nhu cầu của con người muốn tiếp xúc với con người, đó là đặc thù của tâm lý con người. Sự giao tiếp có sự tương tác, gắn kết với nhau diễn ra giữa người với người, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, hay giữa các dân tộc với nhau, giao 13 tiếp được nhìn nhận như là vấn đề trung tâm của cuộc sống con người, là động lực và là nhu cầu phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, có thể thấy giao tiếp là một quá trình có ý thức nhằm hướng tới một mục đích cụ thể và do chủ thể giao tiếp chủ động tiến hành.
Thực tế, giao tiếp là một vấn đề phức tạp và cho đến nay thì vẫn chưa có một sự thống nhất khi đưa ra định nghĩa về giao tiếp. Mỗi nhà nghiên cứu có một quan điểm, lập luận riêng khi đưa định nghĩa về giao tiếp. Do vậy, trong nhiều năm qua, nhiều các nhà nghiên cứu đã không ngừng tìm kiếm để đưa ra câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này. Khi nghiên cứu về vấn đề giao tiếp thì các nhà khoa học tiếp cận nhiều hướng nghiên cứu khác nhau.
Khi nghiên cứu về vấn đề giao tiếp thì tác giả Lêonchiev thì lại cho rằng “Giao tiếp đó là một hệ thống những quy trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ” [27]. Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người trong mối quan hệ xã hội. Có thể thấy, giao tiếp là một quá trình mà người ta làm tăng sự nhận biết một vấn đề bằng cách phán đoán các tín hiệu được người phát hiện ra có liên quan đến vấn đề đó. Ngoài ra, giao tiếp còn là một nghệ thuật trong việc thay đổi thông tin, quan điểm và thái độ giữa con người với con người, là thông tin được truyền từ người này tới người khác, là quá trình mà mỗi cá nhân truyền kích thích để thay đổi hành vi của một cá nhân khác.
Những quan niệm về giao tiếp trên đã nêu được giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, thực hiện chủ yếu bằng lời nói, đây là một cách nhìn tương đối hẹp mặc dù cũng nêu được mục đích của giao tiếp là nhằm thay đổi hành vi của đối tượng giao tiếp. Bởi giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó có những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành. Một điều hiển nhiên 14 là giao tiếp của con người không chỉ xảy ra ở hiện tại mà bao gồm xảy ra ở trong quá khứ và cả tương lai, cho nên giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau. Bên cạnh đó, giao tiếp không chỉ là quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm hoạt động.
Có thể thấy rằng, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, ý kiến, thái độ và tình cảm của người này đến người khác, nhóm này đến nhóm khác thông qua việc sử dụng các biểu tượng. Đặc biệt nhấn mạnh con người khi tham gia vào quá trình giao tiếp thì chủ thể giao tiếp tiếp nhận và phát đi thông điệp nhằm vào các mục tiêu cụ thể như trao đổi tình cảm, thông tin, gia tăng hiểu biết và làm hiện thực hóa các quan hệ xã hội. Còn ở Việt Nam thì các nhà nghiên cứu vẫn có các quan điểm khác nhau về giao tiếp qua các hướng nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng thì “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động” [11].