Chương I: Tổng quan về sự hình thành, phát triển và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương II: Khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ NỘI KHỐI ASEAN 1. Tổng quan về sự hình thành và phát triển của ASEAN: 1. Quá trình hình thành và phát triển: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of southeast asian nations - ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Thái Lan là một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực.
Từ 5 nước thành viên ban đầu đến năm 2009 ASEAN đã có 10 thành viên, 1 ứng cử viên (Đông Timor) và 1 quan sát viên (Papua New Guinea), hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á - một ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông Nam Á. Tuy ở trong cùng một khu vực địa lý nhưng các nước thành viên lại giành độc lập vào các thời điểm khác nhau sau chiến tranh thế giới thứ hai, có những chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa khác nhau, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội. ASEAN có diện tích hơn 4,4 triệu km2 và dân số khoảng 583 triệu người năm (2008), GDP danh nghĩa đạt hơn 1,5 tỉ USD (2008) và tổng kim nghạch xuất khẩu là 802,7 tỉ USD (2009). Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, với nhịp độ trung bình hàng năm từ 5 - 10%, cho đến trước cuộc khủng hoảng vừa qua thì luôn được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển.
Nhưng mức phát triển kinh tế giữa các nước là không đồng đều, In-đô-nê-xi-a là nước đứng đầu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về diện tích và dân số nhưng thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ trên 3.700 USD, trong khi đó Xinh-ga-po và Bru-nây là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích và dân số nhưng có thu nhập đầu người từ 24.000 USD/người/năm. Hiện nay ASEAN đang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, nền ngoại thương tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua - đạt trên 160 tỉ USD vào đầu những năm 1990 và đầu những năm 2000 là 339 tỉ USD, nâng tỉ trọng trong ngoại thương thế giới từ 3,6% lên 4,7%. ASEAN cũng là đối tượng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nếu đầu những năm 80 bình quân là 4,6 tỉ USD/nước/năm, thì đến cuối những năm 80 là 13,5 tỉ USD/nước/năm [29, tr 1]. ASEAN ra đời trong bối cảnh nội bộ từng nước trong khu vực và trên thế giới có nhiều biến động.
ở Đông Nam Á, cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam phát triển, đẩy Mỹ vào thế thất bại nặng nề. Các nước Đông Nam Á đứng trước nhiều thách thức về chính trị, kinh tế trong nội bộ, đồng thời phải giải quyết những khó khăn, xung đột trong quan hệ giữa họ với nhau và sức ép từ bên ngoài. Để đối phó với thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực để tăng cường sức mạnh bản thân đã trở nên cấp bách trong các nước thành viên tương lai của ASEAN. Trước ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổ chức khu vực ra đời và tồn tại trong thời gian ngắn hoặc đã manh nha hình thành, đó là hiệp hội Đông Nam Á (the associasion of southeast asia - ASA) được thành lập ngày 31/1/1961 gồm Thái Lan, Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a, tổ chức MAPHILINDO ra đời tháng 8/1963 gồm Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a [14, tr 17].
Mặc dù vậy, những nỗ lực theo hướng trên đây vẫn được xúc tiến và ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Phi-líp-pin, 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xinh-ga-po và phó Thủ tướng Ma-lai-xi-a kí tại Băng-cốc bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Cả năm nước thành viên đều nhận thấy sự cần thiết phải dựa vào sức mình là chính, thúc đẩy sự liên minh giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội giống nhau, có lợi ích lâu dài và cơ bản trùng hợp nhau; để đối phó với các phong trào chống đối trong nước và những tác động tiêu cực từ bên ngoài nhằm duy trì sự ổn định chính trị - an ninh, làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đây là viên gạch đầu tiên cho việc hình thành một tổ chức hợp tác, thống nhất của khu vực vào những năm 90 của thế kỉ XX, đúng như trong Tuyên bố Băng-cốc: “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực trông qua các nỗ lực chung nhằm tăng cường nền tảng cho một cộng đồng hòa bình và thịnh vượng của các Quốc gia Đông Nam Á” [5, tr 189]. Trong hơn 40 năm qua, ASEAN đã có sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia tiến trình phát triển hợp tác của Hiệp hội thành 3 giai đoạn với những đặc trưng khác nhau: - Giai đoạn 1967 - 1976 (Từ khi thành lập đến Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất ở Ba-li, In-đô-nê-xi-a): Sau tuyên bố Băng-cốc năm 1967, ASEAN đã ra tuyên bố Cua-la-lăm-pơ về Khu vực hoà bình, tự do và trung lập năm 1971 (ZOPFAN), các thành viên cũng phối hợp chính sách với nhau trên một số lĩnh vực như ngoại giao hoặc kinh tế.
Nhưng nói chung ASEAN trong giai đoạn này vẫn chưa đạt được bước hợp tác nào đáng kể vì sau 9 năm hoạt động, ASEAN mới chỉ quyết định thành lập Ban thư kí ASEAN do một Tổng thư kí đứng đầu. Tình hình chung ở giai đoạn này là ASEAN bị chi phối quá nhiều bởi những diễn biến chính trị phức tạp, các bước phối hợp chung thường nhằm mục đích bảo đảm sự cân bằng hiện diện giữa các siêu cường có dính líu lợi ích trong khu 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực, và đối phó với những hoạt động nổi dậy của các lực lượng chống chính phủ trong nước. - Giai đoạn 1976 - 1991 (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất ở Ba-li đến Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 ở Xinh-ga-po): Tháng 2/1976, các nhà lãnh đạo Chính phủ 5 nước đã họp lần đầu tiên tại Ba-li và đã thông qua 2 văn kiện là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN. ASEAN không chỉ hợp tác về an ninh mà được mở rộng ra các vấn đề kinh tế và văn hoá, một số nước đã phối hợp hành động trên lĩnh vực quân sự vì mục đích hoà bình và trung lập, ASEAN cũng liên tục thiết lập và đối thoại đầy đủ với Mỹ, Nhật, Canada, Niu Di-lân, EEC và các tổ chức của Liên hợp quốc.
Ngoài ra về cơ cấu tổ chức của ASEAN giai đoạn này cũng được cải tổ theo hướng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn. Giai đoạn 1976 - 1992, xu hướng hợp tác toàn diện trong khu vực đã bắt đầu khởi động, nhất là việc kí kết thoả thuận thương mại ưu đãi PTA cho toàn khối. Đến tháng 10/1990, vấn đề thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (Ba-li) và được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 (12/1992). AFTA ra đời đánh dấu mốc chuyển sang giai đoạn hợp tác mới đầy ý nghĩa của Hiệp hội.
Trước đó ASEAN cũng tổ chức được Hội nghị Cấp cao lần thứ 2 tại Cua-la-lăm-pơ (1977) và lần thứ 3 tại Phi-líp-pin (1987), kết nạp Bru- nây làm thành viên thứ 6 (1984), tạo tiền đề nhất thể hoá Đông Nam Á trong tương lai không xa. - Giai đoạn 1992 đến nay (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 đến nay): Hoạt động hợp tác của ASEAN đã chuyển biến về chất, tháng 7/1992, Việt Nam và Lào chính thức tham gia Hiệp ước Ba-li và trở thành quan sát viên ở ASEAN. Năm 1995, Việt Nam được chấp nhận là thành viên thứ 7, Lào, My-an-ma và 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cam-pu-chia cũng được kết nạp sau đó, tạo ra ASEAN - 10 với số dân trên 500 triệu người và hứa hẹn một triển vọng phát triển tiềm tàng. Bên cạnh đó, tháng 7/1993, ASEAN quyết định thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) gồm 18 nước trong và ngoài Hiệp hội để trao đổi về các vấn đề chính trị - an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Về kinh tế, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 5 (1995) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (1998) cũng đưa ra Tuyên bố về các biện pháp mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư ASEAN. Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 6 và 7, các nước ASEAN đã thông qua và quyết tâm thực hiện Tuyên bố Hà Nội và Chương trình hành động Hà Nội để đẩy mạnh liên kết ASEAN. Đến Hội nghị Cấp cao lần thứ 8 (2002) và lần thứ 9 (2003), ASEAN đã thảo luận và thông qua mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào năm 2020. Nhằm triển khai Tuyên bố Bali II kí kết tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 9, Hội nghị Cấp cao Lần thứ 10 (2004) đã xây dựng Chương trình hành động Viên-chăn, trong đó có hợp phần về AIA nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN.
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra Tuyên bố về xây dựng Hiến chương ASEAN và ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực. Gần đây Hội nghị Cấp cao lần thứ 16 khai mạc tháng 04/2010 tại Hà Nội cũng rất thành công với việc thông qua 3 tuyên bố chung quan trọng gồm: “Tuyên bố ASEAN về phục hồi và phát triển bền vững”, “Tuyên bố ASEAN về ứng phó với biến đổi khí hậu” và Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16 “Hướng tới công đồng ASEAN: Từ tầm nhìn tới hành động”. Trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ, tích cực cùng các nước thành viên ASEAN trong việc đề xuất các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác ASEAN. Sáu 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tháng sau, ngày 28/10/2010, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 cũng được diễn ra tại Hà Nội.