phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương 12 tiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ BIỂN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ BIỂN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Các nghiên cứu về khái niệm, đặc trƣng của kinh tế biển Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1985), trong cuốn sách “Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta”, đã nêu lên những hiểu biết cần thiết về KTB và ứng dụng khoa học kỹ thuật về biển, theo ông KTB là nền kinh tế tổng hợp, có cơ cấu phức hợp đa ngành bao gồm đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản; kinh tế cảng, vận tải biển, đóng tàu; khai thác khoáng sản biển; du lịch… những hoạt động KTB diễn ra ở v ng ven biển, trên các đảo, cả ở ngoài biển và thềm lục địa; đặc biệt ông rất chú trọng việc kết hợp làm kinh tế với thực hiện nhiệm vụ QPAN; tăng cường hợp tác quốc tế để khai thác, sử dụng biển, nghiên cứu sử dụng năng lượng thủy triều để sản xuất điện… Cuốn sách đã trở thành một pho tài liệu rất quý giá đặt ra cho giới khoa học ngày nay những vấn đề mang tính vượt thời gian, để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng đề ra những giải pháp phát triển KTB trong HNQT [40].Daniel Georgianna (2000), trong bài: “The Massachusetts marine economy” (Kinh tế biển tiểu bang Massachusetts), nghiên cứu về những đặc trưng cơ bản và sự vận động phát triển của các ngành KTB tại tiểu bang Massachusetts.
KTB bao gồm các ngành công nghiệp thủy sản, thương mại; vận tải biển, du lịch, vui chơi giải trí; công nghệ hàng hải và giáo dục; xây dựng ven biển và bất động sản. Hoạt động KTB đã giải quyết việc làm cho trên 81.808 lao động, tạo ra thu nhập gần 2 tỷ USD năm 1997, trong đó, có gần 50% việc làm trong ngành thủy sản, 33% trong các ngành vận tải biển, du lịch và giải trí biển. Các ngành công nghệ, giáo dục và xây dựng biển sử dụng hơn 15% lao động KTB, với mức lương trung bình hàng năm khoảng 23.000 USD/người. Ngành KTB có mức lương cao là nghiên cứu KH&CN và giáo dục biển, các ngành có mức thu nhập thấp hơn như dịch vụ ăn uống, khai thác, chế biến thuỷ sản,… Tác giả cho rằng, KTB có mức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đóng góp rất quan trọng đối với sự thịnh vượng của nền kinh tế và đánh giá các ngành KH&CN và giáo dục biển của tiểu bang Massachusetts phát triển mạnh mẽ, đã tạo dựng được hệ thống cơ sở - vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực khá đồ sộ, thúc đẩy KTB tăng trưởng vững chắc.
Tác giả dự báo các ngành du lịch biển, KH&CN và giáo dục biển sẽ có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai [119]. Douglas-Westwood Limited (2005), bài: “Marine industries global market analysis” (Phân tích thị trường toàn cầu các ngành công nghiệp biển), là báo cáo quốc tế nhằm chuẩn bị cho những yêu cầu về sự hiểu biết và những quan điểm mới về KTB trên phạm vi toàn cầu, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược biển của giai đoạn (2006-2012) của các nước có biển. Tác giả tập trung phân tích, đánh giá và ghi nhận sự đóng góp của các ngành KTB như: Vận tải biển, đóng tàu, dịch vụ cảng biển; du lịch biển; khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản; sản xuất rong và tảo; thăm dò và khai thác dầu khí; phát triển năng lượng tái tạo; cung cấp thiết bị, công nghệ thông tin; công nghệ sinh học biển; giáo dục và huấn luyện kiến thức về biển; nghiên cứu KH&CN biển;… Đây là những ngành KTB phổ biến của các nước trên thế giới. Tác giả đã gợi ý chính sách mang tầm chiến lược cho việc xây dựng quy hoạch phát triển KTB bền vững trong HNQT [120].
Sarah Gardner, Matthew Tonts and Carmen Elrick (2006), trong cuốn “Asocio - economic analysis and description of the marine industries of Australia’s south-west marine region”, (Phân tích và mô tả kinh tế - xã hội của các ngành công nghiệp biển của v ng Tây Nam nước Úc) đã tập trung phân tích tình hình KT-XH v ng ven biển và mô tả những đặc trưng cơ bản của KTB ở v ng Tây Nam của nước Úc, các hoạt động KTB đã được hình thành cách đây khoảng 40.000 năm, vận động và đã phát triển nhanh qua nhiều giai đoạn, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 19, trong suốt thế kỷ 20, và nhất là từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, các ngành KTB phát triển nhanh chóng và có cấu trúc rất phức tạp. Tác giả cho rằng KTB gồm các ngành: dịch vụ cảng biển, vận tải biển, đóng tàu; dầu khí, du lịch biển, khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản; năng lượng biển; xây dựng hệ thống cáp ngầm dưới đáy biển; hoạt động QPAN;… là những ngành có đóng góp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lớn trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động và cung cấp phúc lợi xã hội chủ yếu của nước Úc. Cuốn sách cũng chỉ ra những hạn chế của KTB ở v ng này như: mất cân đối trong cấu trúc KTB, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng, ô nhiễm môi trường biển, sự phát triển thiếu tính bền vững… Để khắc phục cần phải thay đổi cấu trúc KTB, chú ý phát triển các ngành công nghiệp biển mới, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa sạch, bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển bền vững…Cuốn sách có hàm lượng khoa học tốt, gợi ý một cách tư duy mới về KTB trong điều kiện HNQT [132]. Thế Đạt (2009), trong cuốn sách “Nền kinh tế các tỉnh vùng biển Việt Nam”, đã tập trung nghiên cứu những đặc trưng cơ bản về KT-XH ở các tỉnh ven biển dọc theo chiều dài của đất nước (3.260 km) gồm 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam bộ với những nét đặc th độc đáo về môi trường tự nhiên, phức hệ sinh thái và sự phát triển KT-XH ở mỗi khu vực cũng có nét riêng, do đó mỗi khu vực bên cạnh việc áp dụng những giải pháp, cơ chế chính sách chung của cả nước, cũng cần xem xét cho mỗi v ng có cơ chế chính sách đặc th , mới khai thác có hiệu quả tiềm năng KTB của mỗi v ng.
Cuốn sách gợi ra cách tư duy mới về tính đặc th tự nhiên, KT-XH của mỗi v ng biển, vì vậy phải có giải pháp đặc th trong phát triển KTB ở mỗi v ng mới đạt hiệu quả như mong muốn [37]. Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập nhiều vấn đề về KTB, nổi bật nhất là đã nêu lên những hiểu biết cần thiết về khái niệm, các bộ phận cấu thành và đặc trưng của KTB trong HNQT, đều có tính gợi ý và giá trị tham khảo cho tác giả nghiên cứu luận án tiến sĩ. Các nghiên cứu liên quan đến vai trò của kinh tế biển trong hội nhập quốc tế C.Ăngghen (1848), trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã chỉ ra vị trí, vai trò quan trọng của KTB đối với sự phát triển của nhân loại, đó là “Việc tìm ra Châu Mỹ và con đường biển vòng Châu phi đã đem lại một địa bàn hoạt động mới cho giai cấp tư sản vừa mới ra đời… đã đem lại cho thương nghiệp, cho ngành hàng hải, cho công nghiệp, một sự phát đạt chưa từng có” [57, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các quan hệ KTB đã trở nên phổ biến, làm cầu nối cho sự giao thương, buôn bán giữa các quốc gia sôi nổi, tạo ra những bước đột phá “thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường”.
Các mối quan hệ buôn bán quốc tế gia tăng, phát triển kỹ thuật đóng tàu có trọng tải lớn, có thể chở hàng hoá đi xa, C.Mác và Ăngghen nhấn mạnh: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô c ng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh” [57, tr. Kinh tế hàng hải làm nên một “cuộc cách mạng thực sự” trong lĩnh vực giao thông, giúp loài người khám phá tri thức mới về Trái đất, về đại dương, tìm ra những v ng đất mới, đem về cho tầng lớp thương nhân châu Âu những nguyên liệu quý giá vô tận, những kho vàng bạc, châu báu khổng lồ. Kinh tế hàng hải cũng thúc đẩy thương nghiệp phát triển, làm cho đời sống ở các thành thị châu Âu trở nên phồn vinh, thúc đẩy xu thế HNQT như một nhu cầu cấp thiết. Lênin cũng đánh giá cao vai trò của KTB đối với KT-XH, trong bài viết: “Trọn một chục bộ trưởng “xã hội chủ nghĩa”, khi phân tích về “sự phát triển của đế quốc Đan Mạch”, đã nhấn mạnh: “quốc gia này đã thu được những món lợi nhuận siêu ngạch nhờ xuất cảng hàng hoá sang Luân Đôn bằng đường biển” và ông cho rằng: “Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là vận chuyển rẻ nhất” [53, tr.
Trong cuốn sách bàn về “Thuế lương thực”, V. Lênin đặc biệt chú ý các tô nhượng về cảng biển, vận tải biển, dầu khí…Theo ông các tô nhượng này thường có tỷ suất lợi nhuận cao, nên có khả năng thu hút mạnh các nhà đầu tư ngoại quốc, do đó có thể sử dụng để thu hút kỹ thuật của các chuyên gia tư sản… Đồng thời, có thể lợi dụng nó để gây mâu thuẫn, phân hoá các nước đế quốc với nhau, thông qua đó bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển và tránh cho nước Nga khỏi phải đương đầu với các cuộc chiến tranh. Khi bàn về dự án tô nhượng bán đảo Cam-tsat-ca, là dự án tô nhượng lớn với “một hải cảng mở quanh năm, có thể đặt bến tàu quân sự, có dầu mỏ và cả than nữa,… bán đảo này trước đây thuộc đế quốc Nga nhưng đã bị Nhật Bản chiếm giữ và kiểm soát.Lênin kiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.