CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIÊU ❖ Tình hỉnh SD/SXIID trên thể giới và ờ Lào i. Tình hình SD/SXHD trên thế giới Bệnh sổt dengue/$ết xuẩt huyết dengue (SD/SXHỢ) là bệnh nhiêm trùng cấp tính, xảy ra dột ngột gây nên bởi 4 týp vi-rứl dengue. SD/SXHD kru hành ừ vùng nhiệt đới, rẩt phả biền ờ châu Á - Thải Bình Dương và vũng biển Ca-ri-bẽ. Trước đây, nhiều tác già cho ràng SD/SXHD có nguồn gốc từ châu Phi sau đó lan sang châu Mỹ và khắp các vùng nhiệt dới trên toàn cẩu thòng qua sự vận chuyển hảng hoã vả buôn bán nô ỉệ vào thế kỷ 17, 18.
Nhưng gần đây với nhiều bàng chửng về huyết thanh học, dịa sinh vật và tư liệu cổ dã cho thây bệnh SD/SXHD có nguồn géc tử châu Á nhiệt đớí, được lan truyền lới Địa Trung lĩ ải. bờ biển Dông Phi và từ dô lan truyền sang châu Mỹ. Các vụ dịch SD/SXIID đầu tiên thông báo ờ Philadelphia^ tiếp đó ỉ à các vụ dịch khác như Chanertower (úc) năm 1997, Bcirus năm 1910, Đài Loan năm 1916, Hy Lạp nám 1928 [42]. Hiện nay, SD/SXHĐ vần còn là vấn đề cùa y học, Nhưng vụ dịch SD/SXĨID lởn gần dày xày ra O 5 trong 6 khu vực là thảnh viên của TCYTTG.
trừ khu vực châu Ằu. Tuy vậy một số nước trong khu vực này đà có một số lượng đáng kể các trường hợp SD/SXHD từ các nước khác đến. Tống sổ dân ưên toàn cầu có nguy cơ mác bệnh ước tính khoảng từ 2,5 - 3 tỷ người, phần lón trong sổ này sống ở khu vực có khí hậu nhiệt dới. Mặc dù trước kia SD/SXHD được cho là bệnh chì xuất hiện ở khu vực đố thị, nhưng ngày nay, bệnh đã trở nên phồ biển ờ khu vực nông thôn các nưởc Đông Nam Á.
Hàng năm, trỄn toàn thể gìớì ước tỉnh cõ ít nhất 100 triệu người mảc sốt xuất huyết và 500.000 trường hợp sốt xuẩt huyết dengue cần phải nhập viện. Trong các trường hợp SD/SXHD, thì 90% là trè em dưỡi 15 tuồi. Tỳ lệ từ vong trung hình do SD/SXHD lã 5%, sổ tử vong là 250.000 trường hợp moi năm. Từ nâm 1975 đến nãm 1995, SD/SXHD xây ra ở ĩ 02 nước, trong đó cớ 20 nước châu Phì, 42 nước châu Mỹ, 7 nước Đóng Nam Á, 4 nước ớ phía Đóng ĐỊa Trung Hải và 29 nước thuộc khu vực Thái Bình Dương.
Hiện nay, những khư vực có khí hậu nhiệt đới đêu là những vùng có nguy cơ bị dịch cao với tất cả 4 týp vi-rút lưu hành, dỏ í à các khu vực cháu Mỳ, châu Á, Tây Thái Binh Đương và châu Phí. Ờ phía Bắc Queensland (Úc), có 3 týp vi-rút là DEN-1, DEN-2 và DEN-3; ở Trong Dông cớ 2 týp lã DEN-i và DENT [45], 5 Trong hai thập kỷ qua, SD/SXHD đã xây ra ờ 33 nước trong tổng sổ 37 nước ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Hàng năm, có khoảng 15 nước và vùng thông báo số mắc cùa bệnh cho TCY1TG. Trong những nãm 1991-1999 có tới 1,226390 trường hợp mắc bệnh trong khu vực [18], Dạng SD/SXIID lần đầu tỉên được mô tâ như một bệnh mới ở Philippine năm 1953 và ở Thái Lan năm 1958.
Những vụ dịch này đã gây nên sụ hoang mang lo sợ vì tính chẩl mởì lạ và lĩẩm trọng của nó. Sự bí ẩn hên quan đến tác nhân gây bệnh đã được giải quyết khi týp vi-rút DEN-2, 3 và 4 được phân lập ở Philippine năm 1956 và vi-rút DEN-1 ở Thải Lan năm 1958, Giữa những năm 1953 và 1964, SD/SXHD được mỏ tả ở Ần Độ, Malaysia, Philippine, Singapore và Việt Nam. SD/SXHD đã trờ thành dịch lưu hành ờ Thái Lan và Philippine. Có sự tăng rõ rệt số bệnh nhân mắc SD/SXHD trong những nãm 1971- 1978 ớ nhiều nước khác nhau thuộc Đông Nam châu Á, Tây Thái Bình Dương.
Trong giai đoạn 1975-1978, số bệnh nhân mắc bệnh SD/SXHD phàí vào nhập viện là 17.251, tử vong 772 người ớ Mien Điện, tại Indonesia vào viện là 12.918, từ vong là 916, tại Thái Lan vào viện là 71312, tử vong là 1. Năm 1978, một vụ dịch SD/SXHD lớn xảy ra ở miên nam Trung Quốc, do vi-rút DEN-4 gây ra, có 22. Vùng Tây Thái Binh Dương TCYTTG đã nhận được báo cáo tình hình SD/SXHD nãm 1979 từ các nước Nam Ả và Thái Bình Dương. Trong 2 năm 1979 và 1980, dịch xảy ra ở Nam Thải Binh Dương vả Niu Ghinê với 616 bệnh nhân, tử vong 4.
Năm 1982, Malaysia thông bảo dịch SD/SXHD do vi-rút DEN-1, 2 vả 3 gây ra với 3.005 người mắc, tử vong 53. Dịch xảy ra ở đảo Solomong nãm 1982 do vi-rút DEN-3, ờ Bẳc Qeensland (úc) năm 1981 đến 1982 do vi-rút DEN 1, 2 và 3 với tổng số 455 bệnh nhân. SD/SXHD luôn là vấn đề Y tế được quan tâm ờ hầu hết các nước Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Theo thống kê chưa đẩy dủ cùa TCYTTG, ỡ một sổ nước Đông Nam châu Á và Tày Tliái Binh Dương trong các năm từ 1960 đến 1993 số mắc đă lên tới 2.595 trường hợp trong dó có 39.143 trường hợp tử vong.
6 2>Tình hình SD/SXHD ở Lào Năm 1975 đất nướè Làỡ được chuyển thành Cộng hoà nhằn chủ nhân dân Lào, sau 30 nãni đẩu tranh dành độc tập tự do thi mạng lưới y tế được phát huy vả tể chức hoạt động trẽn toàn quốc. Vụ dịch SD/SXHD bùng nồ sau nẫm 1975 và 1976 làm ãnh hường rất lờn đển chính phủ lâm thời và sự phát triển cùa đát nước. Bệnh SD/SXHD là một ván đè sức khỏe nghiêm trọng. Dịch SD/SXI ID ở Lào lớn nhầt vào năm 1987, 1998,2003, thường xảy ra trong sáu tinh lớn của Lảo.
Từ nhũng 1970 dến 1986, dịch xảy ra lê tẻ ở một diem trong nội thành Víêng Chăn vời vài chục trường hợp phải diều Irì trong các bệnh viện. Trong thời gian đó dịch cũng lan ra các tỉnh, thi xã, thị trấn và cà vùng nông thôn. Trong 8 năm gần dây (từ năm 1998 - 2005), trên toàn qưổc số mắc bệnh SD/SXHD trung bình mỗi năm có khoảng 6.473,5 trường hợp và tử vong 19,3 trường hợp, Không những thể, với sự thay dải về kinh tổ, xã hội và mỏi trường sống cùa nhân dân, ở nhiều nơi số mắc bệnh SD/SXHD có chiều hướng tăng lên, nhẩt lã ờ mien Trung vả míềm Nam cùa nước Lào. Bệnh SD/SXHD lưu hành rộng rãi ờ vùng sông Mê Kông.
Bệnh không chì xuất hiện ở đô thì mà cả vùng nông thôn, nơi cỏ véc tơ truyền bệnh [15]. Trong những năm gần đây chì số mác bệnh cao nhất dược thông báo ở các tỉnh ờ vùng sóng Mê Kông từ miền Bắc đen miên Nam. Tuy nhiên nhũng số liệu mới đây đa chì ra ràng bệnh SD/SXMD hay xảy ra những khu Vực cớ điều kiện cung cap nưởc sinh hoạt hàng ngày vã môi trường kém. Có những năm dịch bùng nồ với so mac vá chết cao, như năm 1987 toàn quốc có 9.699 người mác, 295 ngườỉ chết.
Năm 1998 ồng số người mẳc bệnh SD/SXHD ỉà 7.43 8( với 29 người chểt. Năm 2003 sả người mắc SD/SXI-ÍDlà 17.638, 63 người chết- Những nơi khác liệu có bệnh dược coi như là kết quả cúa sự xâm nhập vi-rút dengue từ vùng có bệnh dịch lưu hãnh tới. Mửc độ lan rộng cũa SD/SXHD tuỳ thuộc vào sự phát triển cùa giao thông và sự giao lưu của người dân gíừa các vùng, ờ phía Bắc của Lào là vùng núi xa xôi hẻo lánh, không thấy bệnh xuẩt hiện ke cả những năm cô dịch lớn [17]. Bệnh SD/SXHD ờ Lảo phát triền theo mùa và có sự khác biệt giữa mien Bắc và miền Nam.
ờ miền Bác thưởng ít xây ra dịch hơn so với mien Nam và miền Trung thuộc vùng khí hậu á nhiệt dới, bệnh thường xày ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh thường ít xảy ra vì thời tiỂĩ lạnh, không thích hợp cho sự 7 sinh sản vả hoạt động của muỗi Aedes aegypti. Bệnh phái triển nhiều hơn từ thảng 5 đến tháng 10 vả đinh cao nhất vào những tháng 6, 7, 8, 9 [17]. Trong sổ những người mắc bệnh SD/SXHD trẻ em dưới 15 tuồi chĩểm tỷ lệ cao. Viêng Chăn, nơi tập trung nhiều dân cư nhát, là nơi hay xảy ra vụ dịch lởn, như năm 1985 có ỉ.076 mắc người mắc SĐ/SXHD, 14 người chết, nám 1987 cỏ 3.892 người mẳc, 14 người chết, năm 2003 có 4.320 người mẳc và 6 người chét.
Trẽ em dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ 78,2% trong sổ người mắc và chết [3]. Như vậy, SD/SXI1D rõ ràng là một trong những vấn đề y te quan trọng liên quan tới sức khoẻ và đời sổng của nhân dân Lào hiện nay, nhất lã trong thời kỳ đổi mới phát triển kính te và không ngừng phát triển dô thị hoá, gia tăng giao lưu cùa con người và sự thay đổi thất thường cùa thời tiết.1: Tình hình mắc và chết do bệnh SD/SXHĐ trên toàn quốc( 1998-2005) Miền Năm Chỉ số Tổng Bắc Trung Nam 1998 Số mẳc 700 5.438 Số chết 01 19 09 29 1999 sồ mẳc 623 1785 99 2.507 So chết 01 01 01 03 2000 Số mẳc số chểt 54 1.377 00 03 01 04 2001 số mẳc Sổ chết 229 3.414 Số chá 00 19 03 12 2003 Số mẳc Sổ chết 533 16.645 L 05 60 03 68 2004 Sổ mắc Sổ chết 195 2.263 Số chết 00 10 13 (Nguỗn: Chương trình phòng chông bệnh SD/SXHD, Trung tâm Sôt rét, Côn trùng và Ký sinh trùng Lào) 8 Ó thủ đõ Viêng Chăn sự phát triển kình tế cùng với tổc độ đô thị hoá dien ra hết sức mạnh mẽ, giao thông phát triển, sự biển động dân cư rất lớn, trong khi cơ sở hạ tầng không phát triển kịp, đặc biệt là vẩn đề cung cấp nước sinh hoạt hàng ngày ngày càng gặp nhiều khó khăn nhất là trong nhửng tháng múa khô. Cùng với sự dien biển phức tạp của thời tiết, đây chinh là điều kiện thuận lợi cho muỗi truyền bệnh SD/SXHD phát triền và lan rộng. Huyện Ilạtsaiphong là một huyện ngoại thành của thảnh phố Viêng Chăn, trong nhiều năm gần dây, Hạtsaiphong luôn là một điểm nóng về bệnh SD/SXHD.
Trong khoảng thời gian 1998 - 2005 huyện Hạtsaiphong luôn có số mắc và chết do bệnh SD/SXHD tương đối cao. Năm 1998 tổng số mác của huyện là 901 hên tổng số mác toàn thành phố là 5.664 và tử vong 5 trong số 19 trường hợp cùa cả Viêng Chãn. Một so nghiên cứu trước đây tại Viêng Chăn cho thầy sự thiểu hiểu biết cùa người dân về sinh học cùa véc tơ truyền bệnh SD/SXHD khả phổ biến, dẫn đến hiều biết chung về SD/SXỈĨD chưa cao (40,7%) [36], Đồng thời từ sự thiếu hụt vê kiến thức phòng chống SD/SXHD, tỷ lệ thực hành đúng các biện pháp phòng bệnh SD/SXHD vẫn còn thấp (28,2%) [36].