ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (NKLTQĐTD) và các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản khác không lây truyền qua đường tình dục. Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) gây ra do các vi sinh vật thường có mặt tại đường sinh sản hoặc do vi sinh vật từ bên ngoài vào qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế (1). Nhiễm khuẩn đường sinh sản được chia làm ba loại: (i) Các NKLTQĐTD như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV. (ii) Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo (VÂĐ) do vi khuẩn và viêm âm hộ-âm đạo do nấm men.
Nhiễm khuẩn đường sinh sản có thể đưa đến viêm tiểu khung, vô sinh, chửa ngoài tử cung, ung thư cổ tử cung, sẩy thai, trẻ đẻ thiếu cân, mù lòa, nhiễm khuẩn trẻ sơ sinh, viêm phổi và trì độn ở trẻ em. Ngoài ra, một số NKĐSS còn làm tăng nguy cơ nhiễm HIV (1),(2). Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã báo cáo, hàng năm có khoảng 390 triệu phụ nữ mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục. Trung bình mỗi ngày có khoảng một triệu phụ nữ mắc bệnh (3).
Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 10 triệu phụ nữ đến khám vì VÂĐ, chiếm đến 28% số phụ nữ đến khám tại các phòng khám phụ khoa (4). Ở Italia, NKĐSS do nấm chiếm 51,3%, do vi trùng 19,9% và Trichomonas-vaginalis 6,7% (5). Theo Jamileh Farokhzadian nghiên cứu tại trung tâm chăm sóc sức khỏe của thành phố Kerman, tỷ lệ bị nhiễm khuẩn đường sinh dục ở phụ nữ là 45,9%. Các yếu tố liên quan đến kiến thức gồm: nhóm tuổi, TĐHV (p < 0,01).
Yếu tố liên quan đến thái độ gồm: TĐHV, nguồn thông tin tiếp cận (p < 0,05). Yếu tố liên quan đến thực hành gồm: nhóm tuổi, TĐHV, nghề nghiệp và nguồn thông tin tiếp cận (p <0,05) (6). Tại Việt Nam, ở Nghệ An, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ít nhất một bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở nữ công nhân may là 40,2%. Nguyên nhân phổ biến là do vi khuẩn (29,6%), nấm Candida (16,6%) và trùng roi (0,4%) (7).
Ở Huế, tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới là 46,6%. Các tác nhân gồm: nhiễm khuẩn 2 (29,1%), nhiễm nấm Candida âm đạo (32%) (8). Ở Cần Thơ, theo Phan Trung Thuấn, kết quả cho thấy kiến thức về phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh dục chiếm 31,2%, thái độ đúng đắn 37,2% và thực hành phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh dục chiếm tỷ lệ 60% (9). Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Đồng Tháp, hàng năm phòng khám tiếp nhận khoảng 133.413 lượt người đến khám bệnh, trong đó, số phụ nữ điều trị phụ khoa là 25.769 lượt, có tỷ lệ khoảng 19,3% (10),(11).
Tỷ lệ này thấp hơn so với xu hướng chung của các nghiên cứu nêu trên. Để tìm hiểu rõ hơn về kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa NKĐSS ở phụ nữ từ 18-49 tuổi đến khám tại phòng khám. Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng ngừa NKĐSS ở phụ nữ 18-49 tuổi đến khám tại phòng khám đa khoa, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp, năm 2021”. Kết quả nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cho việc phòng ngừa NKĐSS cho người dân trong địa bàn nghiên cứu.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành về phòng nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ 18-49 tuổi đến khám tại phòng khám đa khoa, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp, năm 2021. Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ 18-49 tuổi đến khám tại phòng khám đa khoa, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp, năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ 18-49 tuổi đến khám tại phòng khám đa khoa, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp, năm 2021.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm nhiễm khuẩn đường sinh sản Theo hướng dẫn chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm các bệnh NKLTQĐTD và các bệnh NKĐSS khác không lây truyền qua đường tình dục. Các bệnh NKĐSS gây ra do vi khuẩn thường trú tại đường sinh sản hoặc do vi khuẩn từ bên ngoài vào hoặc do các thủ thuật y tế. Không phải tất cả các NKĐSS đều có thể lây truyền qua đường tình dục.
NKLTQĐTD nói đến cách thức lây truyền trong khi đó NKĐSS lại đề cập đến vị trí nơi các nhiễm khuẩn tiến triển (1). Nhiễm khuẩn đường sinh sản được chia làm ba loại: Các NKLTQĐTD như nhiễm bệnh lậu, trùng roi sinh dục, giang mai, Chlamydia, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV; Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như VÂĐ do vi khuẩn và viêm âm hộ-âm đạo do nấm men; Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn (1). Các NKĐSS tác động chủ yếu vào các cơ quan sinh sản và sinh dục bao gồm các bệnh NKLTQĐTD và NKĐSS do sự phát triển quá mức của các vi khuẩn có trong âm đạo, như VÂĐ do trực khuẩn và VÂĐ do nấm Candida (12). Nhiễm khuẩn đường sinh sản tác động chủ yếu vào các cơ quan sinh sản và sinh dục, bao gồm các bệnh lây qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn đường sinh sản do sự phát triển quá mức của các vi khuẩn bình thường có trong âm đạo, như viêm âm đạo do trực khuẩn và viêm âm đạo do nấm Candida (12).
Nhiễm khuẩn đường sinh sản: bệnh lý viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục, còn gọi là bệnh lây truyền qua đường tình dục, đóng vai trò quan trọng trong bệnh lý phụ khoa vì là nguyên nhân gây ảnh hưởng sức khoẻ và hoạt động sinh sản của người phụ nữ. Viêm nhiễm cơ quan sinh dục là bệnh khá phổ biến trong đời sống của người phụ nữ, nguyên nhân đa dạng, diễn biến phức tạp dẫn đến việc điều trị khó khăn, đôi lúc để lại biến chứng như viêm tiểu khung, vô sinh, chửa ngoài tử cung, sẩy thai, đẻ non (2). Sinh lý bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản 5 Âm hộ và tiền đình là nơi thường hay gặp chứng hoại sinh ở da; một trong những nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn vi khuẩn là do dùng thuốc rửa âm đạo chưa đúng, sự sử dụng kháng sinh tại chỗ hay toàn thân và một số bệnh mãn tính gây suy nhược cơ thể. Các biểu hiện bệnh lý tại đường sinh dục thường xảy ra khi môi trường acid ở âm đạo thay đổi (13).
Sự khép kín âm đạo, phụ nữ chưa quan hệ tình dục, âm đạo là một khoang ảo được khép kín bằng cơ xung quanh của âm đạo, đây là hàng rào bảo vệ sinh lý (14),(15). Vì vậy, đối với phụ nữ chưa quan hệ tình dục ít bị NKĐSD và trong âm đạo luôn có mặt các vi khuẩn có lợi như hàng rào bảo vệ âm đạo. Tuy nhiên, ngược lại với phụ nữ đã có QHTD thì dễ mắc bệnh NKĐSD và các vi khuẩn có lợi cũng dễ bị thay đổi nếu như phụ nữ có những thói quen không phù hợp thì nguy cơ mắc các bệnh NKĐSD rất cao. Triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn đường sinh sản Bệnh lý về NKĐSS thường biểu hiện một hội chứng gồm ba triệu chứng chính là ra khí hư, có ra máu bất thường và đau bụng dưới.
Khí hư là triệu chứng quan trọng và phổ biến nhất trong chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh khác nhau dựa vào tính chất, màu sắc, số lượng khí hư thay đổi tùy thuộc vào từng loại. Khí hư thường biểu hiện dưới các dạng sau (2),(16). - Khí hư đặc: màu trắng đặc, như bột, giống như sữa đặc, đọng trong các túi cùng âm đạo, nhất là túi cùng sau, thường có sự hiện diện của nấm Candida albicans. Vì vậy đây là dấu hiệu tương đối đặc hiệu của nấm Candida albicans, tuy nhiên để chẩn đoán chính xác cần phải xét nghiệm soi tươi để chẩn đoán chính xác.
- Khí hư xanh nhạt, có bọt: đục, loãng, có màu xanh nhạt, mùi hôi, số lượng nhiều và đọng ở các túi cùng âm đạo, xét nghiệm thường thấy ký sinh trùng roi. Đây cũng là dấu hiệu tương đối để chẩn đoán Trichomonas, tuy nhiên để chẩn đoán chính xác thì cũng cần phải xét nghiệm soi tươi để chẩn đoán chính xác và điều trị cho cả người chồng. - Khí hư giống như mủ: nguyên nhân thường do các tạp khuẩn gây nên. Đây là dấu hiệu không điển hình bởi vì khí hư giống như mủ cũng có thể do lậu cầu khuẩn.
- Khí hư lẫn máu: thường gặp ở các tổn thương gây loét, trợt tại thành âm đạo, cổ tử cung, Polyp cổ tử cung, ung thư cổ tử cung và âm đạo. Tất cả các dấu hiệu trên 6 rất đặc hiệu để chẩn đoán huyết trắng bệnh lý giúp phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời, đồng thời giúp cho CBYT nhận dạng được huyết trắng thuộc nhóm nào của bệnh lý. Tuy nhiên, để giúp cho CBYT điều trị triệt để cần phải có xét nghiệm soi tươi chẩn đoán xác định, điều trị theo phác đồ, phòng tránh các trường hợp tái nhiễm và không tuân thủ điều trị bệnh. Ngoài những nguyên nhân trên, bệnh huyết trắng còn có thể do phụ nữ vệ sinh vùng kín không đúng, thay băng vệ sinh không thường xuyên trong kỳ kinh (17).
Tóm lại với đặc điểm giải phẩu sinh lý và bệnh lý của đường sinh dục có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có chức năng hết sức quan trọng và đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, với đặc điểm giải phẩu phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp đến việc sinh đẻ, quan hệ tình dục, là đoạn cuối của sự bài tiết kinh nguyệt, các tuyến và nước tiểu. Đó là thực trạng về NKĐSS mà ngành y tế cũng như các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần quan tâm, nếu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không có đủ kiến thức, thiếu dịch vụ y tế và các thói quen không tốt sẽ là những yếu tố liên quan trực tiếp đến NKĐSS của phụ nữ. Các loại nhiễm khuẩn đường sinh sản Theo hướng dẫn chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, NKĐSS/ nhiễm khuẩn LTQĐTD gồm có các loại sau (1).