Kiến thức thái dộ về phòng co giật do sốt cao đơn thuần của các bà mẹ có con đến khám tại bệnh viện nhi tỉnh nam định năm 2023

Bài viết cung cấp kiến thức về phòng co giật do sốt cao đơn thuần cho các bà mẹ có con khám tại bệnh viện nhi tỉnh Nam Định năm 2023.

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2. CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

6. CHƯƠNG 6: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU KHẢO SÁT

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến thức và thái độ phòng ngừa co giật do sốt cao ở trẻ em

Co giật do sốt cao là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trong độ tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi. Nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức và thái độ của các bà mẹ về vấn đề này có ảnh hưởng lớn đến việc phòng ngừa và xử trí kịp thời khi trẻ bị sốt. Việc nâng cao nhận thức của các bà mẹ về co giật do sốt là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ và hậu quả của tình trạng này.

1.1. Định nghĩa và phân loại co giật do sốt cao

Co giật do sốt cao được định nghĩa là cơn co giật xảy ra ở trẻ em có sốt mà không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ. Phân loại bao gồm co giật do sốt đơn thuần và phức hợp, với tỷ lệ mắc cao nhất ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi.

1.2. Tầm quan trọng của kiến thức bà mẹ trong phòng ngừa co giật

Kiến thức của bà mẹ về phòng ngừa co giật có thể giúp họ nhận biết sớm các dấu hiệu và triệu chứng của sốt cao, từ đó có biện pháp xử trí kịp thời, giảm thiểu nguy cơ tái phát và biến chứng cho trẻ.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phòng ngừa co giật do sốt cao

Mặc dù có nhiều thông tin về co giật do sốt, nhưng thực tế cho thấy nhiều bà mẹ vẫn thiếu kiến thức và có thái độ không đúng đắn trong việc xử trí khi trẻ bị sốt. Điều này dẫn đến những hành vi không phù hợp, có thể gây hại cho trẻ. Các thách thức bao gồm sự thiếu hụt thông tin, sự lo lắng và hoang mang của bà mẹ khi trẻ bị sốt.

2.1. Thiếu kiến thức về triệu chứng và xử trí co giật

Nhiều bà mẹ không nhận biết được các triệu chứng của co giật do sốt và không biết cách xử trí đúng khi trẻ bị sốt cao, dẫn đến việc không đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời.

2.2. Tâm lý lo lắng và hoang mang của bà mẹ

Khi trẻ bị sốt, nhiều bà mẹ thường cảm thấy lo lắng và hoang mang, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong việc chăm sóc trẻ.

III. Phương pháp nâng cao kiến thức và thái độ của bà mẹ

Để cải thiện kiến thức và thái độ của các bà mẹ về phòng ngừa co giật do sốt cao, cần có các chương trình giáo dục sức khỏe hiệu quả. Các phương pháp này có thể bao gồm hội thảo, tài liệu hướng dẫn và tư vấn trực tiếp từ nhân viên y tế.

3.1. Tổ chức các buổi hội thảo giáo dục sức khỏe

Các buổi hội thảo có thể giúp bà mẹ hiểu rõ hơn về co giật do sốt và cách xử trí khi trẻ bị sốt cao, từ đó nâng cao nhận thức và giảm thiểu lo lắng.

3.2. Cung cấp tài liệu hướng dẫn dễ hiểu

Tài liệu hướng dẫn nên được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, giúp bà mẹ dễ dàng tiếp cận và áp dụng kiến thức vào thực tế.

IV. Kết quả nghiên cứu về kiến thức và thái độ của bà mẹ tại Nam Định

Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định cho thấy rằng chỉ một tỷ lệ nhỏ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng ngừa co giật do sốt cao. Kết quả này cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời để nâng cao nhận thức của bà mẹ.

4.1. Tỷ lệ kiến thức đúng của bà mẹ

Chỉ khoảng 30% bà mẹ có kiến thức đúng về co giật do sốt, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện giáo dục sức khỏe cho nhóm đối tượng này.

4.2. Thái độ của bà mẹ trong việc xử trí khi trẻ bị sốt

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thái độ của bà mẹ trong việc xử trí khi trẻ bị sốt còn nhiều hạn chế, cần có sự hỗ trợ từ nhân viên y tế để cải thiện tình hình.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong phòng ngừa co giật do sốt cao

Việc nâng cao kiến thức và thái độ của các bà mẹ về phòng ngừa co giật do sốt cao là rất quan trọng. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe liên tục để đảm bảo rằng các bà mẹ có đủ thông tin và kỹ năng cần thiết để chăm sóc trẻ đúng cách.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe liên tục

Giáo dục sức khỏe liên tục sẽ giúp bà mẹ cập nhật thông tin mới nhất về co giật do sốt, từ đó nâng cao khả năng xử trí khi trẻ bị sốt.

5.2. Đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả

Cần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức và thái độ của bà mẹ, góp phần giảm thiểu tỷ lệ mắc co giật do sốt ở trẻ em.

15/07/2025
Kiến thức thái dộ về phòng co giật do sốt cao đơn thuần của các bà mẹ có con đến khám tại bệnh viện nhi tỉnh nam định năm 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Sốt là hiện tượng tăng nhiệt độ của cơ thể được xác nhận khi nhiệt độ đo ở hậu môn trên 38℃ hoặc ở nách trên 37,5℃ trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi do hậu quả của sự rối loạn trung tâm điều nhiệt [17]. Phân loại sốt: - Sốt nhẹ: từ 37,5 ℃ – < 38,5℃ - Sốt vừa: từ 38,5 ℃ – < 39℃ - Sốt cao: từ 39 ℃ – < 41℃ - Sốt rất cao hay sốt nguy hiểm: > 41℃. Co giật là những cơn co cơ kịch phát hoặc nhịp điệu từng hồi, biểu hiện bằng những cơn co cứng hoặc những cơn co giật gây co cứng – co giật do động kinh hoặc do các nguyên nhân khác [10].

Năm 1980, Viện quốc gia về sức khoẻ Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về CGDS: “Co giật do sốt là một hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường gặp độ tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, liên quan tới sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hoặc một nguyên nhân xác định khác đối với cơn co giật. Những cơn co giật có sốt ở trẻ mà trước đó đã bị một co giật không sốt thì được loại trừ” [7]. Tiêu chuẩn chẩn đoán CGDS dựa vào định nghĩa của Hiệp hội chống động kinh Quốc tế: “Tuổi của trẻ từ 1 – 5 tuổi, có sốt nhưng không do nhiễm khuẩn ở hệ thần kinh, co giật xảy ra khi có sốt, loại trừ các trường hợp co giật do sốt do tiêm vaccin hoặc độc tố, không có tiền sử co giật sơ sinh, hoặc có một cơn giật xảy ra trước đó không do sốt” [10]. Đợt co giật do sốt: được tính từ lúc khởi phát của bệnh có sốt đến lúc kết thúc của bệnh ấy mà trong thời gian đó có cơn CGDS.

Trong một đợt CGDS có thể có một hoặc nhiều cơn co giật. Phân loại co giật do sốt: - Co giật do sốt đơn thuần (SCCG). 5 - Co giật do sốt phức hợp. - Trạng thái động kinh do sốt.

Dịch tễ học co giật do sốt (CGDS) ở trẻ em: - Hầu hết các cơn CGDS đều xảy ra trong khoảng từ 3 tháng đến 5 tuổi, tỷ lệ gặp cao nhất ở 18 tháng tuổi, khoảng 6 – 15% trường hợp xảy ra sau 4 tuổi và ít gặp sau 6 tuổi [19]. - Bệnh thường gặp ở trẻ, 2 – 5% trẻ khỏe mạnh có thể bị co giật do sốt. - Khoảng 30% trẻ em co giật do sốt sẽ có nguy cơ co giật lần 2, tuy nhiên chỉ 1– 2% co giật do sốt đơn thuần và khoảng 10% co giật do sốt phức hợp có nguy cơ bị động kinh sau này [5]. - Tỷ lệ co giật do sốt ở trẻ trai phổ biến hơn so với trẻ gái.

Các yếu tố nguy cơ phát sinh co giật do sốt. Tuổi: - CGDS có liên quan rõ rệt theo tuổi. - Tuổi khởi phát cơn giật liên quan đến sự tái phát của cơn giật. Tuổi khởi phát càng nhỏ thì tỷ lệ tái phát càng cao.

- Trẻ nữ thường có cơn CGDS đầu tiên ở tuổi nhỏ hơn so với trẻ nam. Giới: Tỷ lệ nam bị CGDS cao hơn nữ. Tình trạng co giật hay gặp nhất ở trẻ sốt trên 39°C (có khoảng 25% trẻ co giật khi sốt 38 – 39°C). Trẻ tiêm chủng một số loại vaccine có thể làm tăng nguy cơ co giật do sốt.

Tiêm mũi phối hợp (bạch hầu, ho gà, uốn ván với thủy đậu) có nguy cơ cao hơn so với tiêm riêng mũi thủy đậu. Các yếu tố trước sinh ở người mẹ: Mẹ nghiện thuốc lá ≥ 10 điếu/ngày trong thời kì mang thai thì sinh con có nguy cơ cao bị co giật do sốt, mẹ tiếp xúc với hóa chất, mẹ bị bệnh mạn tính, nhiễm độc thai nghén, chảy máu trong 3 tháng đầu, hoặc 3 tháng cuối thai kì đều làm tăng nguy cơ 6 CGDS ở con do các yếu tố này ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển hệ thần kinh [11]. Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn: Co giật do sốt có thể liên quan đến một số loại virus, các loại virus này khác nhau giữa các quốc gia, châu lục: HHV-6, HHV-7, RSV, HSV, Adenovirus, A cúm, Rotavirus,. Theo nghiên cứu của Tsuboi (1984) với trẻ em tại Nhật Bản: hai thời điểm đỉnh mắc CGDS trong năm: từ tháng 11 đến tháng 1 (tương ứng với đỉnh cao nhiễm virus đường hô hấp trên) và từ tháng 6 đến tháng 8 (tương ứng với đỉnh cao nhiễm virus đường tiêu hoá) [23].

Yếu tố gia đình [11]: + Những gia đình có bố hoặc mẹ hoặc cả bố và mẹ bị co giật do sốt thì 11% sinh con nguy cơ mắc bệnh. + Trẻ có anh chị em bị co giật do sốt thì nguy cơ mắc bệnh là 22%. Các yếu tố chu sinh: Các bất thường chu sinh như đẻ ngạt, mổ đẻ, đẻ ngôi ngược, đẻ thiếu tháng, cân nặng sơ sinh thấp có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của CGDS [11]. Các yếu tố nguy cơ tới đợt tái phát co giật do sốt.

Tỷ lệ tái phát 25% - 50%, khác nhau tuỳ tác giả nghiên cứu, trung bình 30%; 9% trường hợp có 3 đợt tái phát hoặc hơn. Gần 1/6 – 1/3 trẻ có hai đợt CGDS sẽ có đợt thứ ba hoặc hơn nữa [4]. Tỷ lệ tái phát tăng khi có nhiều yếu tố nguy cơ, các yếu tố này chủ yếu phụ thuộc vào đợt CGDS đầu tiên. - CGDS ở họ hàng thế hệ một (bố mẹ và anh chị em ruột).

- Động kinh ở họ hàng thế hệ một. - Cơn đầu tiên là cơn phức hợp. - Sự chăm sóc không hợp lý ở con đầu tiên. Triệu chứng lâm sàng.

Co giật do sốt cao (sốt cao co giật đơn thuần). Cơn sốt là yếu tố quyết định của co giật do sốt, 75% trẻ có thân nhiệt trên 39,2 °C và 25% trên 40,2°C [10]. Thời gian từ khi sốt tới tới khi co giật: cơn co giật thường xuất hiện sớm trong ngày đầu của sốt. Đặc điểm lâm sàng co giật do sốt cao là [3]: + Hay gặp ở trẻ trong độ tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi.

+ Cơn co giật xảy ra ở trẻ sốt cao trên 39 °C. + Co giật toàn thân (lan toả toàn thân). + Thời gian mỗi cơn co giật ngắn dưới 10 phút. + Số cơn co giật tái phát ít trong 1 ngày, dưới 4 lần.

+ Tiền sử: Trước đây hễ bị sốt cao là trẻ co giật. + Thăm khám hệ thần kinh: Bình thường. + Dịch não tuỷ bình thường. + Điện não đồ ngoài cơn: Bình thường.

Đặc điểm cơn co giật. Cơn giật thường xuất hiện đột ngột, không có tiền triệu, lúc thân nhiệt đang tăng, đặc biệt lúc tăng đột ngột. Đôi khi co giật là dấu hiệu đầu tiên của đợt sốt. Ngoài ra, co giật có thể xuất hiện lúc thân nhiệt đang giảm, một số trường hợp xuất hiện ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ ban đầu.

Co giật thường xảy ra sớm trong đợt sốt, thường là co giật toàn thể, dưới dạng cơn co cứng, trương lực hoặc cơn rung giật hoặc co cứng – co giật [13]. Cơn co giật thường ngắn, 1 – 2 phút, có trường hợp chỉ 10 giây hoặc co giật kéo dài trên 30 phút. Cơn kéo dài thường là dạng cơn cục bộ hơn. Trong cơn co giật, trẻ có thể tăng tiết đờm dãi, tím môi và ít gặp đại tiểu tiện, không tự chủ, mất ý thức hoặc ngừng thở.

Sau cơn trẻ tỉnh táo, một số ít lũ lẫn, sừng sờ hoặc ngủ, nhưng khi được đánh thức trẻ tỉnh táo hoàn toàn [13]. CGDS đầu tiên có vai trò quan trọng trong tiên lượng, nếu cơn co giật lần đầu xuất hiện sớm hoặc có hình ảnh phức hợp thì nguy cơ tái phát, chuyển thành cơn động kinh sẽ tăng lên, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền sử gia đình hoặc tiền sử bất thường lúc sinh [2]. 8 Trong một đợt CGDS, trẻ có thể bị một hoặc nhiều cơn co giật. Cơn kéo dài thường có biểu hiện cục bộ hơn.

Trong cơn co giật, trẻ có thể tăng tiết đờm rãi, tím môi và ít gặp hơn là đại tiểu tiện không tự chủ, mất ý thức hoặc ngừng thở. Sau cơn, trẻ thường ngủ, hoặc lú lẫn, sững sờ, đau đầu hoặc có thể tỉnh táo bình thường [5]. Cận lâm sàng. Cho đến nay chưa có một xét nghiệm đặc biệt nào cho chẩn đoán CGDS, các xét nghiệm chủ yếu là để định hướng và loại trừ giúp tìm nguyên nhân gây sốt.

Các xét nghiệm liên quan đến sốt cũng như xác định nguyên nhân gây co giật do sốt phải được đặt lên hàng đầu [7]. Đánh giá dấu hiệu nhiễm khuẩn qua số lượng bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Đường máu: cao do phân hủy glycogen dưới ảnh hưởng của sự giải phóng adrenergic. CRP: đánh giá nhiễm vi khuẩn hay virus.

Điện giải đồ, Calci, GOT, GPT, Ure, creatinin. Trước kia, điện não đồ thường được dùng để đánh giá khả năng tái phát hay tiến triển thành động kinh của CGDS.Các nghiên cứu gần đây cho rằng điện não đồ trong đợt CGDS không giúp ích nhiều cho tiên lượng, thậm chí có thể gây nhầm lẫn. Vì thế các tác giả khuyên không nên dùng điện não đồ để điều trị dự phòng [7]. * Chẩn đoán hình ảnh trong co giật do sốt.

CT – Scanner và MRI sọ não được chỉ định trong trường hợp có triệu chứng thần kinh như liệt khu trú, tăng áp lực nội sọ nghi ngờ có khối choán chỗ trong sọ thì đây là cách tốt nhất để loại trừ [7]. Hậu quả của cơn giật. Nếu cơn co giật toàn thể, kéo dài dưới 15 phút thì thường không gây thương tổn não rõ ràng [3]. Nếu cơn kéo dài trên 30 phút sẽ gây phù não, hoại tử neuron khu trú và sau đó là xơ hoá, thường là ở thuỳ thái dương giữa.

Các thương tổn não này do 9 nhiều yếu tố phối hợp gây nên: do chính cơn co giật, do tăng thân nhiệt, hạ huyết áp, thiếu oxy não, nhiễm toan, hạ đường huyết. Xử trí cơn co giật. * Nguyên tắc chung [2]. Xử trí bao gồm: + Để trẻ nằm yên, đầu trẻ nghiêng bên phải, tránh kích thích, nới rộng quần áo.

+ Thở oxy nếu cơn giật kéo dài trên 5 phút hoặc có tình trạng thiếu oxy. + Nhanh chóng lấy nhiệt độ và các chỉ số sinh tồn. + Trong một số trường hợp có thể đặt gạc (hoặc vật mềm) giữa 2 hàm răng để trẻ không cắn vào lưỡi. + Trong trường hợp cơn co giật kéo dài có thể thụt Diazepam 0,5mg/kg theo đường hậu môn hoặc 0,2 – 0,3mg/kg đường tiêm tĩnh mạch chậm.

Hoặc sử dụng Midazolam 0,1mg/kg theo đường tiêm tĩnh mạch chậm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiến thức và thái độ của các bà mẹ về phòng ngừa co giật do sốt cao ở trẻ em tại Nam Định 2023" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và hành vi của các bà mẹ trong việc phòng ngừa co giật do sốt cao ở trẻ em. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe cho các bậc phụ huynh mà còn chỉ ra những khoảng trống trong kiến thức mà họ cần được hỗ trợ. Qua đó, tài liệu giúp nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp phòng ngừa, từ đó bảo vệ sức khỏe cho trẻ em.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Đặc điểm kiểu hình và kết quả điều trị cơn cấp rối loạn chuyển hóa acid béo bẩm sinh ở trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương, nơi cung cấp thông tin về các rối loạn chuyển hóa ở trẻ em. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn kiến thức thái độ thực hành của bà mẹ và một số yếu tố liên quan trong phòng xử trí bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện đăk hà tỉnh kon tum cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách các bà mẹ xử lý các bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ. Cuối cùng, tài liệu Kiến thức thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị viêm phổi và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện nhi trung ương năm 2021 sẽ cung cấp thêm thông tin về cách chăm sóc trẻ bị viêm phổi, một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe trẻ em và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.