Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU. Lịch sử nghiên cứu bệnh lao. Tình hình bệnh lao. Tình hình bệnh lao trên thế giới.
Tình hình bệnh lao ở Việt Nam. Những nghiên cửu về vấn đề hiểu biết bệnh lao trong cộng đồng. Trên thế giới. Những nghiên cứu ở Việt Nam.15 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.
Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu.
Phương pháp thu thập số liệu. Biến số nghiên cứu. Các định nghĩa và tiêu chuẩn đánh giá. Một số khái niệm, định nghĩa.
Cách tính điểm. Phương pháp phân tích số liệu. Vẩn đề đạo đức cùa nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai sổ.30 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu.
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu. Tuổi của đổi tượng nghiên cứu. Trình độ học vấn. Nguồn thông tin về bệnh lao.
Nguồn thông tin về bệnh. Số lượng nguồn thông tin về bệnh. Tần suất thông tin về bệnh. Lựa chọn của đối tượng nghiên cứu về nguồn thông tin để người dân có thể tiếp nhận được tốt nhất.
Kiến thức về phòng và điều trị bệnh lao. Kiến thức về nguyên nhân bệnh lao. Kiến thức về nguồn lây và những người dễ mắcbệnh lao. Kiến thức về triệu chứng và phát hiện bệnh.
Kiến thức về điều trị bệnh. Kiến thức về phòng bệnh. Tổng hợp kiến thức về phòng và điều trị bệnh laocủaĐTNC. Thái độ đối với bệnh lao của ĐTNC.
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu. Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng và điều trị bệnh. Mối liên quan đến thái độ của đối tượng nghiên cứu với bệnh.46 Chương 4 BÀN LUẬN. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.
Nguồn thông tin về bệnh lao. Kiến thức về phòng và điều trị bệnh lao của ĐTNC. Kiến thức về nguyên nhân bệnh lao. Kiến thức về nguồn lây và nhũng người dễ mắc bệnh lao.
Kiến thức về triệu chứng và phát hiện bệnh. Kiến thức về điều trị bệnh. Kiến thức về phòng bệnh. Tổng hợp kiến thức về phòng và điều trị bệnh lao.
Thái độ đối với bệnh lao của người dân. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu.60 Chương 5 KẾT LUẬN. 63 Chương 6 KHUYẾN NGHỊ. 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Bộ câu hỏi phỏng vấn. Tỷ lệ % số trường hợp phát hiện bệnh lao AFB(+), 1995 - 2007. 77 vi DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Sổ trường hợp phát hiện bệnh lao trên thế giới.
Tình hình bệnh lao tại Việt Nam, năm 2006. Phân bố tuổi theo nhóm và giới tính. Trình độ học vấn của đổi tượng nghiên cứu. Nguồn thông tin đến đối tượng nghiên cứu.
Tần suất thông tin ĐTNC thu nhận được. Nguồn thông tin tốt nhất với ĐTNC. Nguyên nhân gây bệnh lao. Số ĐTNC có kiến thức đúng về nguồn lây và những người dễ mắc lao.
Tổng hợp điểm kiến thức về nguồn lây và những người dễ mắc bệnh. Tổng hợp điểm kiến thức về triệu chứng và phát hiện bệnh. Số ĐTNC có kiến thức đúng về điều trị bệnh. Tổng hợp điểm kiến thức về điều trị bệnh.
Số ĐTNC có kiến thức đúng về phòng bệnh. Tổng hợp điểm kiến thức về phòng bệnh. Kiến thức chung về phòng và điều trị bệnh lao của ĐTNC. Tổng hợp thái độ của ĐTNC.
Mổi liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về bệnh lao. Mối liên quan giữa giới, nguồn thông tin và kiến thức vềbệnh lao. Mối liên quan giữa một số yểu tố với thái độ của ĐTNC.46 7 DANH MỤC ĐỒ THỊ Đồ thị 3. Phân bổ nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu.
Số lượng nguồn thông tin thu nhận được của ĐTNC. Nguồn lây chính của bệnh lao. Số ĐTNC có kiến thức đúng về triệu chứng và phát hiện bệnh. Thái độ của đổi tượng nghiên cứu đối với bệnh.44 8 TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu Lao là một bệnh vẫn phổ biến ở Việt Nam.
Trong công tác chống lao, ngoài hoạt động của y tế và Chương trình chống lao, kiến thức của cộng đồng vẫn là một vấn đề quyết định. Cộng đồng có ý thức có thể có những đóng góp quan trọng trong phòng bệnh, phát hiện và chữa bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mô tả kiến thức, thái độ về phòng và điều trị bệnh lao cũng như các yểu tố liên quan của người dân. Nghiên cứu được tiến hành trên 285 người dân từ 15 đến 60 tuổi sinh sống tại thị trấn Yên Viên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Kết quả cho thấy: trên 90% đối tượng nghiên cứu biết lao là một bệnh lây và lây qua đường hô hấp, hơn 80% biết ho kéo dài là dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh; 95% nói sè đi khám tại các cơ sở y tể khi nghi ngờ mắc bệnh; tuy nhiên, gần 60% không biết nguồn lây bệnh chính là người bệnh lao phổi ho khạc ra vi khuẩn. 84% biết lao là một bệnh chữa khỏi được, nhưng trên 90% không biết gì về điều trị ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp. 92% biết có thể phòng bệnh lao nhưng 95% không đề cập đen việc phải tiêm phòng lao cho trẻ sơ sinh bằng BCG. Có mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức chung về bệnh, theo đó những người có trình độ học vấn từ THPT trở xuống có nguy cơ kiến thức không đạt cao hơn 2,5 lần so với người có trình độ học vấn trên THPT (CI 95%: 1,20 - 5,19; p<0,05).
Người dân có điều kiện tiếp thu thông tin từ nhiều phương tiện hiện đại: truyền hình, phát thanh, kể cả internet. Trong đó, loa truyền thanh thị trấn vẫn là nguồn cung cấp thông tin có hiệu quả: 47,4% người được điều tra cho biết họ có được thông tin về bệnh qua loa truyền thanh. Tuy nhiên, vai trò của cán bộ y tế vẫn rất quan trọng vì chỉ người cán bộ y tế mới có thể đưa tới người dân những kiến thức cụ thể và chính xác. 1 ĐẶT VÁN ĐÈ Việc phát hiện ra những thuốc đặc hiệu giúp cho việc điều trị khỏi hầu như hoàn toàn bệnh lao từ giữa thế kỷ XX đã làm dịch tễ bệnh lao trên thế giới thay đổi nhanh chóng.
Nhiều quốc gia đã khống chế được bệnh lao, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển. Thành tựu to lớn đã làm nhiều người lãng quên căn bệnh nguy hiểm này. Chính sự lãng quên đó cùng với sự xuất hiện của đại dịch HIV/AIDS đã làm cho bệnh lao bùng phát trở lại. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2009, trên thể giới có khoảng 1/3 dân số nhiễm lao [38].
Mồi năm khoảng 9,27 triệu người mắc lao mới, trong đó ước tính 1,37 triệu (14,8%) là bệnh nhân lao HIV(+). Hàng năm, trên thế giới có 1,8 triệu người chết do lao, chiếm 25% trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân [38]. Ở Việt Nam, lao vẫn là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến. Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 nước có số lượng bệnh nhân lao cao nhất thế giới với 173 ngàn người mắc lao mới mỗi năm [38], Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ tử vong do bệnh lao ở Việt Nam là khoảng 23/100.
Tỷ lệ kháng thuốc chung chiếm 32,5% tổng sổ bệnh nhân lao. Ước tính mỗi năm cả nước có khoảng 130.000 người mắc bệnh lao mới, trong đó lao phổi chiếm 85%. Chỉ tính riêng trong năm 2008, cả nước đã phát hiện được 53.476 trường hợp lao mới và số người tử vong do lao là 3. Tỷ lệ mắc lao mọi thể là khoảng 76/100 nghìn dân, trong đó số có vi khuẩn AFB(+) là 37/100 nghìn dân [1].
Theo số liệu của khoa Kiểm soát dịch bệnh, Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, tỷ lệ bệnh nhân lao được phát hiện hàng năm vẫn đang ở mức cao. Tỷ lệ bệnh nhân AFB(+) được phát hiện trên 100.000 dân trong các năm 2006, 2007 và 2008 là 34, 2 29 và 32. Tại thị trấn Yên Viên, tỷ lệ bệnh nhân lao AFB (+) được phát hiện trong cùng những năm này có xu hướng tăng và ở mức cao hon tỷ lệ chung toàn huyện: 24, 32 và 48 [9], Theo hướng dẫn của Chưong trình chống lao quốc gia, tất cả bệnh nhân lao đều được điều trị theo chế độ Trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp (Directly Observed Treatment Short - course/ DOTS). Theo chế độ điều trị này, chỉ có các bệnh nhân bệnh quá nặng mới cần được điều trị nội trú tại bệnh viện.
Việc điều trị tại nhà đã chứng minh có hiệu quả cao và đem lại nhiều lợi ích: giảm chi phí điều trị, giảm sự quá tải của bệnh viện, bệnh nhân không bị tách khỏi môi trường gia đình và xã hội mà họ đang sống, nhanh chóng đưa bệnh nhân tái hòa nhập cộng đồng. Trong chế độ điều trị như vậy, kiến thức, thái độ về phòng và chữa trị bệnh lao của cộng đong có vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo kết quả điều trị bệnh lao tại nhà. Nếu các thành viên trong gia đình người bệnh nói riêng và cộng đồng nói chung có kiến thức, thái độ tốt, họ sẽ hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ nguyên tắc điều trị và khuyến khích người có triệu chứng nghi lao đi khám để phát hiện bệnh kịp thời, nhờ đó làm giảm sự lan truyền của bệnh lao. Ngược lại, kiến thức, thái độ của người dân không tổt sẽ có tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu tới kết quả điều trị và việc lây lan của vi khuẩn lao trong cộng đồng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ đối với bệnh lao, nhưng đa số đều hầu như chỉ tiến hành trên bệnh nhân (đã hoặc đang điều trị) và người nhà của họ mà không phải là kiến thức của cộng đồng nói chung.
Kết quả của một số công trình nghiên cứu hiếm hoi đã cho thấy trên thực tế, hiểu biết của cộng đồng về bệnh lao còn nhiều điều chưa đúng đắn. Nghiên cứu của Đào Văn Quang [11] thực hiện năm 2008 trên 422 nam giới trong lứa tuổi từ 18 đến 60 tại Bắc Giang cho thấy có một tỷ lệ lớn người được hỏi đã hiểu không đúng về 3 nguyên nhân gây bệnh lao: 49,5% cho ràng bệnh lao là do di truyền hoặc “lao lục”, 30% cho ràng bệnh lao lây qua nguồn nước ô nhiễm hoặc không biết lý do lây. Nghiên cứu của Lưu Thị Liên và cộng sự [10] năm 2005 trên 840 người dân xã Tân Hưng, Sóc Sơn, Hà nội cũng cho thấy có tới 38,7% người được hỏi cho lao là do “lao lực” hoặc di truyền, 11% cho rằng đường tiêu hóa là đường lây truyền chính.