Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019, toàn cầu ghi nhận khoảng 10 triệu ca mắc lao mới và khoảng 1,5 triệu trường hợp tử vong do căn bệnh này. Việt Nam hiện đứng thứ 25 trong số 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới với tỷ lệ mắc mới ước tính 182 ca trên 100.000 dân và khoảng 17.000 ca tử vong mỗi năm, cao hơn gấp hai lần số ca tử vong do tai nạn giao thông. Trong bối cảnh đó, tình trạng lao phổi tái phát và vi khuẩn lao kháng thuốc, đặc biệt là kháng Rifampicin (kháng R) và lao đa kháng thuốc (MDR-TB), đang trở thành rào cản nghiêm trọng đối với hệ thống y tế công cộng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế tỷ lệ lao phổi tái phát tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng từ 6,1% năm 1999 lên 6,9% vào năm 2014. Bệnh nhân có tiền sử điều trị lao có nguy cơ nhiễm chủng vi khuẩn kháng thuốc cao gấp 4 đến 5 lần so với bệnh nhân mới mắc, trong đó tỷ lệ kháng Rifampicin ở nhóm điều trị lại chiếm từ 18% đến 23%. Nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu lâm sàng cập nhật, đề tài xác định mục tiêu tổng quát là khảo sát tỷ lệ kháng Rifampicin và phân tích các yếu tố liên quan ở bệnh nhân lao phổi tái phát có vi khuẩn kháng cồn toan dương tính trong đờm (AFB+).

Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc định lượng tỷ lệ kháng thuốc, xác định các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng đặc trưng nhằm hỗ trợ bác sĩ rút ngắn thời gian chẩn đoán từ nhiều tuần xuống còn 2 giờ, tối ưu hóa phác đồ điều trị ban đầu và nâng cao tỷ lệ điều trị thành công từ mức 56% của lao đa kháng lên các mục tiêu cao hơn theo Chiến lược Chấm dứt Bệnh lao của Tổ chức Y tế Thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên mô hình đột biến gen tự nhiên của trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis dưới áp lực chọn lọc của thuốc chống lao. Vi khuẩn lao không có hiện tượng chuyển gen kháng thuốc qua plasmid hay transposon như các vi khuẩn thông thường. Hiện tượng kháng thuốc xuất hiện do đột biến tự phát trên nhiễm sắc thể với tần suất tự nhiên khoảng 1 trên 10^10 phân chia đối với Rifampicin và 1 trên 10^7 đến 10^9 đối với Isoniazid. Khi điều trị không đúng phác đồ hoặc người bệnh tuân thủ kém, các chủng vi khuẩn nhạy cảm bị triệt tiêu, tạo điều kiện cho các chủng đột biến kháng thuốc nhân lên chiếm ưu thế.

Nghiên cứu vận dụng các khái niệm bệnh học chuẩn mực:

  • Lao kháng Rifampicin (RR-TB): Chủng vi khuẩn kháng với Rifampicin, có hoặc không kháng kèm các thuốc chống lao hàng một khác.
  • Lao đa kháng thuốc (MDR-TB): Tình trạng vi khuẩn kháng đồng thời với ít nhất hai thuốc chống lao chủ chốt hàng một là Isoniazid và Rifampicin.
  • Lao phổi tái phát AFB(+): Bệnh nhân đã hoàn thành đợt điều trị lao trước đó và được xác nhận khỏi bệnh hoặc hoàn thành điều trị, nay xuất hiện triệu chứng trở lại với xét nghiệm soi đờm trực tiếp dương tính với trực khuẩn kháng cồn toan.
  • Cơ chế phân tử kháng Rifampicin: Liên quan trực tiếp đến các đột biến tại vùng xác định kháng Rifampicin (RRDR) trên gen rpoB mã hóa cho tiểu đơn vị beta của men RNA-polymerase, chiếm khoảng 96% các trường hợp phân lập được.
  • Cơ chế kháng Isoniazid: Chủ yếu do đột biến gen katG mã hóa enzyme catalase-peroxidase (làm mất khả năng hoạt hóa tiền chất Isoniazid thành dạng có hoạt tính) và đột biến vùng promoter của gen inhA.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích. Quá trình thu dung thực hiện trên 148 bệnh nhân lao phổi tái phát AFB(+) nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong khung thời gian từ ngày 01 tháng 09 năm 2019 đến ngày 31 tháng 05 năm 2020. Sau khi sàng lọc theo tiêu chuẩn nhận vào (bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, chẩn đoán xác định lao phổi tái phát AFB+, đồng ý tham gia) và tiêu chuẩn loại trừ (không đủ điều kiện làm xét nghiệm kháng thuốc), có 138 bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm chẩn đoán vi sinh/phân tử và 130 bệnh nhân có đầy đủ kết quả kháng sinh đồ phục vụ phân tích chuyên sâu.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng nhằm thu nhận tối đa các ca bệnh thỏa mãn tiêu chí trong thời gian nghiên cứu. Quy trình thu thập dữ liệu kết hợp phỏng vấn bệnh án chuẩn hóa, thăm khám lâm sàng toàn diện, chụp X-quang ngực thẳng/CT-scan lồng ngực và thực hiện đồng bộ các xét nghiệm vi sinh: soi đờm trực tiếp nhuộm Ziehl-Neelsen, xét nghiệm sinh học phân tử GeneXpert MTB/RIF, xét nghiệm lai mẫu dò phân tử Line Probe Assay (LPA) và nuôi cấy định danh kháng sinh đồ tự động trên hệ thống môi trường lỏng BACTEC MGIT 960.

Dữ liệu được làm sạch trên phần mềm Microsoft Excel 2013 và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0. Các biến định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm; biến định lượng được mô tả qua giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn. Phép kiểm Chi bình phương (hoặc kiểm định chính xác của Fisher khi tần số kỳ vọng dưới 5) được sử dụng để so sánh tỷ lệ giữa nhóm kháng Rifampicin và không kháng Rifampicin. Mức độ liên quan được lượng hóa thông qua tỷ số số chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95%, ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại giá trị p nhỏ hơn hoặc bằng 0,05. Lý do lựa chọn bộ phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn mực dịch tễ học, cho phép đánh giá độc lập và lượng hóa chính xác mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng với tình trạng kháng thuốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu trên 130 bệnh nhân hoàn thành xét nghiệm khẳng định ghi nhận 39 trường hợp lao phổi kháng Rifampicin, tương ứng với tỷ lệ 30,0%, trong khi nhóm không kháng Rifampicin chiếm 70,0% (91 trường hợp). Tỷ lệ kháng Rifampicin 30,0% ở nhóm tái phát cao gấp khoảng 8,5 lần so với tỷ lệ kháng ghi nhận ở nhóm bệnh nhân mới mắc trong cộng đồng (3,5%).

Về đặc điểm nhân khẩu học và thể trạng, nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 82,3% (107 ca), cao gấp 4,6 lần nữ giới (17,7% với 23 ca). Phân bố độ tuổi cho thấy 76,2% bệnh nhân tập trung ở nhóm trên 45 tuổi, trong đó nhóm người cao tuổi trên 65 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 27,7%. Đáng chú ý, tình trạng suy dinh dưỡng với chỉ số khối cơ thể (BMI) dưới 18,5 chiếm tới 54,6% tổng số đối tượng nghiên cứu, trong khi nhóm có thể trạng bình thường chiếm 45,4% và không ghi nhận trường hợp nào thừa cân hay béo phì. Phân bố nơi cư trú cho thấy 61,5% bệnh nhân sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và 38,5% đến từ các tỉnh lân cận.

Về tiền căn và bệnh lý phối hợp, tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá là 33,9% (44 ca). Đái tháo đường là bệnh đồng mắc phổ biến nhất, chiếm 25,4% (33 ca), tiếp theo là tăng huyết áp với 13,1% (17 ca), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc hen phế quản chiếm 7,7% (10 ca), bệnh lý gan mạn tính chiếm 4,6% (6 ca) và đồng nhiễm HIV chiếm 3,1% (4 ca).

Về triệu chứng cơ năng, ho là biểu hiện thường gặp nhất chiếm 80,8% (105 ca), ăn uống kém/mệt mỏi chiếm 65,4% (85 ca), khó thở chiếm 52,3% (68 ca), sốt nhẹ về chiều chiếm 42,3% (55 ca), vã mồ hôi trộm ban đêm chiếm 40,0% (52 ca) và ho ra máu chiếm 20,0% (26 ca). Trên phim X-quang lồng ngực, tổn thương dạng thâm nhiễm không đồng nhất và nốt chiếm đa số, phân bố chủ yếu ở nửa trên hai phế trường (chiếm từ 50% đến 90%); tỷ lệ có hình ảnh tổn thương hang xơ hóa chiếm trên 40% và phần lớn thuộc mức độ tổn thương rộng (Độ III theo phân loại của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ - ATS).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ kháng Rifampicin 30,0% ở bệnh nhân lao phổi tái phát AFB(+) tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch phản ánh tính chất phức tạp của các ca bệnh chuyển tuyến chuyên khoa sâu. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu lâm sàng tại các trung tâm điều trị lao tuyến cuối, nơi tập trung nhiều bệnh nhân có tiền sử dùng thuốc không liên tục hoặc thất bại điều trị từ tuyến cơ sở. Sự ưu thế rõ rệt ở nam giới (82,3%) và nhóm tuổi trên 45 (76,2%) được giải thích bởi thói quen giao tiếp xã hội, tỷ lệ hút thuốc lá cao (33,9%) làm tổn thương hàng rào thanh thải biểu mô phế quản, cùng với sự suy giảm tự nhiên của hệ thống miễn dịch qua trung gian tế bào theo tuổi tác.

Tỷ lệ suy dinh dưỡng lên tới 54,6% và đái tháo đường 25,4% là hai yếu tố bệnh sinh quan trọng thúc đẩy sự tái hoạt của vi khuẩn lao và gia tăng nguy cơ kháng thuốc. Suy dinh dưỡng làm giảm nồng độ protein huyết tương, ảnh hưởng đến dược động học của thuốc kháng lao, trong khi đái tháo đường làm suy yếu chức năng thực bào của đại thực bào phế nang. Đặc biệt, sự hiện diện của các tổn thương tạo hang trên X-quang (trên 40%) tạo môi trường lý tưởng với mật độ vi khuẩn vượt quá 10^7 cá thể, làm tăng xác suất xuất hiện các đột biến gen rpoBkatG.

Để truyền tải trực quan các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn tối ưu thông qua các định dạng đồ họa y học:

  • Biểu đồ tròn thể hiện phân bố tỷ lệ kháng Rifampicin (30,0% kháng R so với 70,0% không kháng R) và cơ cấu giới tính (82,3% nam so với 17,7% nữ).
  • Biểu đồ cột ghép đôi so sánh tỷ lệ hiện diện của các triệu chứng lâm sàng chủ yếu (ho, ăn kém, khó thở, sốt về chiều) và các bệnh nền (đái tháo đường, tăng huyết áp, COPD) giữa nhóm kháng R và nhóm không kháng R.
  • Bảng phân tích hồi quy trình bày chi tiết các giá trị tỷ số số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% CI và giá trị p nhằm minh chứng mức độ tác động của từng yếu tố nguy cơ đối với biến cố kháng thuốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp thực tiễn được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán và kiểm soát lao kháng thuốc:

  1. Chuẩn hóa chỉ định xét nghiệm sinh học phân tử GeneXpert MTB/RIF ban đầu: Chỉ định bắt buộc xét nghiệm GeneXpert MTB/RIF cho 100% bệnh nhân được chẩn đoán lao phổi tái phát AFB(+) ngay tại thời điểm tiếp nhận khám ban đầu. Mục tiêu là rút ngắn thời gian phát hiện đột biến kháng Rifampicin xuống dưới 2 giờ, thay vì chờ đợi kết quả nuôi cấy truyền thống kéo dài từ 4 đến 8 tuần. Kế hoạch triển khai thực hiện ngay trong năm 2021 dưới sự chủ trì của Ban Giám đốc, Khoa Khám bệnh và Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch phối hợp cùng mạng lưới chống lao các tỉnh phía Nam.

  2. Thiết lập quy trình kiểm soát bệnh đồng mắc và can thiệp dinh dưỡng: Xây dựng phác đồ phối hợp liên chuyên khoa nhằm tầm soát đường huyết thường quy và kiểm soát chỉ số HbA1c dưới 7,0% cho 25,4% bệnh nhân đái tháo đường đi kèm. Đồng thời, triển khai can thiệp bổ sung dinh dưỡng giàu năng lượng cho 54,6% bệnh nhân suy dinh dưỡng nhằm nâng chỉ số BMI đạt ngưỡng an toàn, cải thiện nồng độ albumin huyết thanh trên 35 g/L trong 2 tháng đầu điều trị. Chủ thể thực hiện là Bác sĩ điều trị lâm sàng phối hợp cùng Khoa Dinh dưỡng tiết chế.

  3. Củng cố chiến lược điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOTS mở rộng): Tăng cường giám sát uống thuốc có kiểm soát trực tiếp hàng ngày đối với toàn bộ bệnh nhân lao tái phát trong suốt liệu trình từ 6 đến 9 tháng. Ứng dụng công nghệ nhắc lịch uống thuốc điện tử nhằm đạt tỷ lệ tuân thủ điều trị tuyệt đối trên 95%, giảm tỷ lệ bỏ trị xuống dưới 2% vào năm 2023. Trách nhiệm thực hiện thuộc về mạng lưới y tế tuyến quận, huyện và trạm y tế xã, phường trực thuộc Chương trình Chống lao Quốc gia.

  4. Tích hợp đánh giá mức độ tổn thương X-quang để định hướng làm kháng sinh đồ thứ phát: Quy định đánh giá định lượng diện tích tổn thương và kích thước hang theo tiêu chuẩn ATS cho 100% phim chụp X-quang phổi lúc nhập viện. Những trường hợp có tổn thương hang trên 4 cm hoặc tổn thương lan tỏa hai bên phế trường cần được chỉ định ngay hệ thống nuôi cấy lỏng BACTEC MGIT 960 để làm kháng sinh đồ hàng hai nhằm phát hiện sớm tiền siêu kháng và siêu kháng thuốc. Tiến độ hoàn thành quy chuẩn hội chẩn trong 24 giờ nhập viện, thực hiện bởi Khoa Chẩn đoán hình ảnh và các Khoa Lâm sàng Bệnh phổi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Bác sĩ chuyên khoa Hô hấp và Lao tại các cơ sở điều trị: Nắm bắt bức tranh dịch tễ học và các triệu chứng lâm sàng đặc thù của lao tái phát (nam giới cao tuổi, thể trạng gầy sút, ho kéo dài, tổn thương hang xơ hóa). Từ đó, bác sĩ có căn cứ chỉ định sớm các kỹ thuật chẩn đoán phân tử hiện đại, tránh lạm dụng phác đồ điều trị lại chuẩn khi chưa có kết quả kháng sinh đồ.

  2. Cán bộ quản lý Chương trình Chống lao Quốc gia: Sử dụng dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ kháng Rifampicin (30,0%) và tỷ lệ bệnh đồng mắc đái tháo đường (25,4%) để xây dựng kế hoạch phân bổ trang thiết bị máy GeneXpert, dự trù cơ số thuốc kháng lao hàng hai và hoạch định chính sách hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn tại khu vực phía Nam.

  3. Học viên sau đại học, Bác sĩ Nội trú và Nghiên cứu sinh Y khoa: Tham khảo mô hình thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, quy trình xử lý số liệu chuẩn hóa bằng SPSS 20.0, cũng như phương pháp tiếp cận các kỹ thuật sinh học phân tử tiên tiến (GeneXpert, LPA, BACTEC MGIT 960) phục vụ thực hiện các đề tài nghiên cứu lâm sàng chuyên ngành Bệnh phổi.

  4. Dược sĩ lâm sàng và Nhân viên y tế phụ trách chương trình DOTS cơ sở: Hiểu rõ cơ chế vi sinh học và tầm quan trọng của việc giám sát tuân thủ liều dùng, tương tác thuốc giữa phác đồ kháng lao với thuốc hạ đường huyết, từ đó nâng cao chất lượng tư vấn, hướng dẫn người bệnh dùng thuốc đúng cách nhằm ngăn chặn đột biến kháng thuốc thứ phát trong cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao bệnh nhân lao phổi tái phát AFB(+) lại có nguy cơ kháng Rifampicin cao gấp nhiều lần so với người mới mắc?
Bệnh nhân điều trị lao trước đây đã trải qua quá trình tiếp xúc với thuốc chống lao. Nếu phác đồ trước đó bị gián đoạn, liều lượng chưa tối ưu hoặc người bệnh bỏ trị, các vi khuẩn nhạy cảm bị tiêu diệt nhưng các chủng vi khuẩn mang đột biến gen rpoB tự nhiên sẽ sống sót, nhân lên và chiếm ưu thế trong các hang lao cũ, dẫn đến tỷ lệ kháng Rifampicin ở nhóm tái phát lên tới 30,0%, cao gấp khoảng 8,5 lần so với nhóm mắc lao lần đầu (3,5%).

2. Xét nghiệm GeneXpert MTB/RIF có ưu điểm vượt trội gì so với phương pháp soi đờm trực tiếp truyền thống?
GeneXpert MTB/RIF sử dụng kỹ thuật khuếch đại gen PCR bán tự động khép kín, có khả năng phát hiện đồng thời phức bộ vi khuẩn lao và đột biến kháng Rifampicin trên gen rpoB trực tiếp từ mẫu đờm chỉ trong vòng 2 giờ. Xét nghiệm đạt độ nhạy lên đến 98% trên các mẫu đờm AFB dương tính và độ đặc hiệu 98%, giúp chẩn đoán xác định nhanh chóng thay vì phải chờ nuôi cấy từ 4 đến 8 tuần.

3. Mối liên hệ giữa tình trạng suy dinh dưỡng và nguy cơ kháng thuốc ở bệnh nhân lao tái phát được giải thích như thế nào?
Trong nghiên cứu, có tới 54,6% bệnh nhân có chỉ số BMI dưới 18,5. Suy dinh dưỡng làm suy giảm trầm trọng miễn dịch qua trung gian tế bào lympho T, giảm nồng độ protein liên kết trong máu làm thay đổi sinh khả dụng và phân bố của thuốc kháng lao. Nồng độ thuốc không đạt đỉnh điều trị trong mô phổi tổn thương tạo điều kiện thuận lợi cho các chủng vi khuẩn lao đột biến phát triển mạnh mẽ.

4. Tổn thương hang trên phim X-quang ngực ảnh hưởng ra sao đến diễn tiến của lao phổi kháng thuốc?
Nghiên cứu ghi nhận trên 40% bệnh nhân có tổn thương hang, tập trung nhiều ở phân thùy đỉnh và thùy trên hai phổi. Môi trường giàu oxy và hoại tử bã đậu bên trong lòng hang chứa lượng vi khuẩn khổng lồ vượt quá 10^7 cá thể. Mật độ vi khuẩn đậm đặc làm gia tăng xác suất xuất hiện các đột biến kháng thuốc ngẫu nhiên, đồng thời cản trở sự thẩm thấu của thuốc vào trung tâm ổ tổn thương.

5. Vì sao cần sàng lọc đái tháo đường thường quy trên bệnh nhân lao phổi tái phát?
Tỷ lệ đái tháo đường chiếm tới 25,4% trong tổng số bệnh nhân nghiên cứu. Tình trạng tăng đường huyết mạn tính làm rối loạn chức năng đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính, làm giảm khả năng tiêu diệt trực khuẩn lao nội bào. Việc kiểm soát kém đường huyết làm chậm thời gian âm hóa đờm, gia tăng nguy cơ tái phát và tăng khả năng thất bại điều trị nếu không được quản lý đường huyết song hành với phác đồ kháng lao.

Kết luận

  • Tỷ lệ kháng Rifampicin ở bệnh nhân lao phổi tái phát AFB(+) tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch ghi nhận ở mức cao là 30,0%, khẳng định đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao cần được ưu tiên tầm soát kháng thuốc.
  • Đặc điểm dịch tễ và nhân khẩu học nổi bật gồm tỷ lệ nam giới chiếm ưu thế vượt trội (82,3%), nhóm tuổi trên 45 chiếm 76,2% và hơn một nửa số bệnh nhân (54,6%) trong tình trạng suy dinh dưỡng với chỉ số BMI dưới 18,5.
  • Triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là ho (80,8%), ăn uống kém (65,4%), khó thở (52,3%), đi kèm tỷ lệ bệnh đồng mắc đái tháo đường chiếm 25,4% và tổn thương hang trên X-quang phổi chiếm trên 40%.
  • Kỹ thuật sinh học phân tử GeneXpert MTB/RIF đóng vai trò then chốt giúp phát hiện sớm tình trạng kháng Rifampicin trong 2 giờ, hỗ trợ chỉ định kịp thời phác đồ lao đa kháng.
  • Cần thiết lập mô hình quản lý toàn diện kết hợp giữa điều trị thuốc kháng lao theo chương trình DOTS mở rộng với can thiệp dinh dưỡng và kiểm soát chặt chẽ các bệnh lý nội khoa đi kèm.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bức tranh dịch tễ học lâm sàng thực chứng và định lượng chính xác tỷ lệ kháng Rifampicin tại bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối khu vực phía Nam. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi mở rộng nghiên cứu đa trung tâm trên cỡ mẫu lớn hơn trong giai đoạn 2021-2025 nhằm phân tích sâu các đột biến gen hàng hai. Các cơ sở y tế và bác sĩ lâm sàng cần chủ động áp dụng quy trình chỉ định GeneXpert MTB/RIF thường quy cho mọi trường hợp lao tái phát nhằm nâng cao tỷ lệ điều trị thành công và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.