Luận văn kiến thức thái độ thực hành của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi về tiêm chủng và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh miện tỉnh hải dương năm 2017

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi về tiêm chủng tại huyện Thanh Miện, Hải Dương năm 2017.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức tiêm chủng

Kiến thức tiêm chủng của các bà mẹ tại Hải Dương được đánh giá qua hiểu biết về lợi ích, lịch tiêm và các phản ứng sau tiêm. Nghiên cứu chỉ ra rằng 69.9% bà mẹ có kiến thức đạt về tiêm chủng trẻ em. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận chưa nắm rõ về các bệnh được phòng ngừa và thời gian theo dõi trẻ sau tiêm. Vaccine cho trẻ như BCG, Quinvaxem, và Sởi-Rubella cần được hiểu rõ để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh.

1.1. Hiểu biết về lợi ích tiêm chủng

Các bà mẹ cần nhận thức rõ lợi ích của tiêm chủng trong việc phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Nghiên cứu cho thấy, nhiều bà mẹ chưa hiểu đầy đủ về tầm quan trọng của việc tiêm đủ mũi và đúng lịch. Chương trình tiêm chủng mở rộng cần được truyền thông rộng rãi để nâng cao nhận thức.

1.2. Kiến thức về phản ứng sau tiêm

Các bà mẹ cần được trang bị kiến thức về phản ứng sau tiêm chủng, bao gồm các dấu hiệu thông thường và nghiêm trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều bà mẹ lo lắng về các phản ứng như sốt, sưng đau tại chỗ tiêm. Việc hiểu rõ các phản ứng này giúp bà mẹ chủ động theo dõi và xử lý kịp thời.

II. Thái độ tiêm chủng

Thái độ tiêm chủng của các bà mẹ tại Hải Dương được đánh giá qua sự tin tưởng vào hiệu quả và an toàn của vaccine cho trẻ. Nghiên cứu cho thấy 56.1% bà mẹ có thái độ tích cực về tiêm chủng trẻ em. Tuy nhiên, vẫn còn một số bà mẹ nghi ngờ về chất lượng vaccine TCMR so với vaccine dịch vụ.

2.1. Tin tưởng vào hiệu quả vaccine

Các bà mẹ cần được thuyết phục về hiệu quả của vaccine trong việc phòng bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều bà mẹ tin rằng vaccine dịch vụ an toàn hơn so với vaccine TCMR. Điều này cần được cải thiện thông qua truyền thông và giáo dục.

2.2. Lo ngại về phản ứng sau tiêm

Nhiều bà mẹ lo ngại về phản ứng sau tiêm chủng, đặc biệt là các phản ứng nặng. Nghiên cứu cho thấy, việc cung cấp thông tin đầy đủ về các phản ứng và cách xử lý giúp giảm bớt lo lắng và tăng cường sự tin tưởng vào chương trình tiêm chủng.

III. Thực hành tiêm chủng

Thực hành tiêm chủng của các bà mẹ tại Hải Dương được đánh giá qua việc tuân thủ lịch tiêm và theo dõi trẻ sau tiêm. Nghiên cứu chỉ ra rằng 74% bà mẹ có thực hành đúng về tiêm chủng trẻ em. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng trẻ không được ghi vào sổ tiêm chủng hoặc bỏ lỡ mũi tiêm do quên.

3.1. Tuân thủ lịch tiêm chủng

Các bà mẹ cần tuân thủ đúng lịch tiêm chủng để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tiêm đúng lịch là 86.7%, nhưng vẫn còn một số trẻ bỏ lỡ mũi tiêm do bố mẹ quên. Chương trình tiêm chủng cần nhắc nhở và hỗ trợ các bà mẹ trong việc ghi nhớ lịch tiêm.

3.2. Theo dõi trẻ sau tiêm

Các bà mẹ cần được hướng dẫn về theo dõi trẻ sau tiêm chủng, bao gồm các dấu hiệu cần lưu ý và cách xử lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc theo dõi kịp thời giúp giảm thiểu các phản ứng nghiêm trọng và tăng cường sự an toàn trong tiêm chủng trẻ em.

IV. Yếu tố liên quan đến tiêm chủng

Các yếu tố như học vấn, nguồn thông tin, và nghề nghiệp của các bà mẹ có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, và thực hành tiêm chủng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các bà mẹ có học vấn cao và nhận thông tin từ cán bộ y tế có kiến thức và thái độ tích cực hơn về tiêm chủng trẻ em.

4.1. Học vấn và kiến thức tiêm chủng

Học vấn của các bà mẹ có mối liên quan chặt chẽ với kiến thức tiêm chủng. Nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn thường có hiểu biết tốt hơn về lợi ích của tiêm chủng và các phản ứng sau tiêm.

4.2. Nguồn thông tin và thái độ tiêm chủng

Nguồn thông tin từ cán bộ y tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ tiêm chủng tích cực. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các bà mẹ nhận thông tin từ cán bộ y tế có thái độ tin tưởng hơn vào chương trình tiêm chủngvaccine cho trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ thực hành của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi về tiêm chủng và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh miện tỉnh hải dương năm 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU 1. Tiêm chủng và một số khái niệm 1. Tiêm chúng: Là biện pháp sử dụng vắc xin để tạo miễn dịch chủ động cho người nhằm phòng một số bệnh truyền nhiễm phổ biến[32]. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi để phòng 10 bệnh lây nhiễm nguy hiểm đó là: Lao, Bach hau, Ho ga, Uén van, viêm gan B, viêm phôi/ viêm màng não mủ do Hib, Bại liệt, Sởi, Rubella, viêm não Nhật Bản.

Vac xin Vac xin là vật liệu chế từ các vi sinh vật hoặc các kháng nguyên đặc hiệu của chúng để đưa vào cơ thê người gây miễn dịch chủ động cho cộng đồng phòng các bệnh truyền nhiễm do chính các vi sinh vật tương ứng gây ra[ 12]. Vắc xin nhạy cảm với nhiệt độ và đông băng, do vậy bảo quản vắc xin ở nhiệt độ cho phép trong hệ thống dây chuyền lạnh. Dây chuyển lạnh là hệ thống bao quản, vận chuyển và phân phối vắc xin từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng[4]. Phản ứng sau tiêm chủng Là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng[29].

Các loại phản ứng sau tiêm chủng bao gồm: - Phản ứng thông thường: + Sưng, đỏ, đau, ngứa, tại chỗ tiêm và có thể chiếm khoảng 10% số đối tượng đã được tiêm chủng, trừ tiêm DTwP hoặc uốn ván là những vắc xin có đến 50% có thể có các phản ứng này. BCG gây ra phản ứng tại chỗ bắt đầu như một sẵn da cam, hai hoặc nhiều tuần sau tiêm sẽ trở thành vết loét và lành sau vài tháng, để lại một vết seo[3] + Sốt đưới 38,5°C và các triệu chứng toàn thân (khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, quấy khóc) có thể là một phần của đáp ứng miễn dịch bình thường. Các phản ứng này thông thường là nhẹ và tự khỏi[3]. - Phản ứng nặng sau tiêm chủng: Là phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở) hoặc để lại di chứng thậm chí tử vong[3].

Một số nội dung về tiêm chủng 1. Những trường hợp chống chỉ định và hoãn tiêm Những trường hợp chống chỉ định: Trẻ có tiền sử sốc phản vệ, sốc nhiễm độc hoặc các phản ứng nặng khác trong những lần tiêm vắc xin trước, sốt cao trên 39°C kẻm theo các dấu hiệu nao/mang , tím tái khó thở. Trẻ có tinh trạng suy yếu các cơ quan trong cơ thê (Suy tuần hoàn, hô hấp, suy tim, gan, thận .), trì giác bất thường ly bì hoặc kích thích. Trẻ mắc các bệnh về hệ thống miễn dịch (HIV/AIDS, bệnh suy giảm miễn dich bẩm sinh) chống chỉ định tiêm các loại vac xin sống.

Các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin[2]. Những trường hợp hoãn tiêm: Trẻ sốt >37,5°C hoặc hạ thân nhiệt <35.5°C đo tại nách khi khám sảng lọc sẽ tạm thời hoãn tiêm hoặc lui vào thời điểm khác. Trẻ đang sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, trẻ sử dụng các sản phâm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng trừ trường hợp sử dụng sử dụng globulin miễn dịch để điều trị viêm gan B. Trẻ đang hoặc mới kết thúc liều điều trị Corticoid (uống, tiêm) trong vòng 14 ngày.

Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2000gr. Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin[2]. Số tiêm chủng cá nhân Sổ tiêm chủng cá nhân là số ghi chép các mũi tiêm chủng của trẻ từ lúc trẻ được sinh ra. Số tiêm chủng được ghi chép bởi cán bộ y tế sau mỗi lần tiêm về các mũi trẻ được tiêm và ngày giờ thực hiện.

Số cũng phần “ghi nhớ” về các mũi tiêm trong chương trình TCMR, trẻ ở tháng tuổi mấy thì tiêm mũi nào, nhờ đó cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ có thể nắm các mũi tiêm mà trẻ đã được tiêm vả thời gian trẻ tiêm các mũi tiếp theo. Theo dõi trẻ sau tiêm chúng: Thời gian theo dõi trẻ sau tiêm là 30 phút tại địa điêm tiêm chủng và theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ để phát hiện sớm các tai biến nặng sau tiêm chủng. Trong trường hợp xảy ra tai biến tại nơi tiêm chủng cần dừng ngay buổi tiêm, xử trí người bệnh và ghi chép lại thông tin về vắc xin, ngày giờ tiêm, người được tiêm, số người được tiêm loại vắc xin đó, thống kê toản bộ số vỏ lọ vắc xin, bơm kim tiêm. Chương trình tiêm chủng mở rộng và vai trò của chương trình tiêm chủng trong phòng chống bệnh dịch 1.

Chương trinh tiêm chúng mở rộng Trên thế giới Trên phạm vi thế giới, từ khi nhà khoa học Jenner phát minh ra vắc xin đậu mùa năm 1796, bệnh đã cướp đi 2 triệu sinh mạng mỗi năm và đã được thanh toán vào năm 1979, đã đánh dấu một bước phát triển lớn của y học loài người. Từ đây, nhân loại đã có tiền đề của một vũ khí sắc bén để chéng lại các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Vắc xin. Thành quả của chương trình tiêm chủng mở rộng trên phạm vi toàn thế giới năm 2014 là 115 triệu trẻ em được tiêm vắc xin bạch hầu — ho gà — uốn ván, 85% trẻ được tiêm sởi trước 1 tuổi và trên thế giới hiện nay chỉ còn 2 nước còn tồn tại bệnh bại liệt là Afganistan va Pakistan, đây là thành tựu rất đáng khích lệ nếu biết rằng năm 1988 có trên 125 nước còn tổn tại bệnh này (WHO). Khó khăn van tồn tại đối với các nước nghèo và chậm phát triển.

Do đó năm 2016, Tổ chức y tế thế giới đặt ra khẩu hiệu là thu hẹp khoảng cách tiêm chủng, tiêm chủng cho mọi người trong suốt cuộc đời[45][13]. Tiêm chủng được coi là một chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu thiết thực và hiệu quả nhất, theo đánh giá của quốc tế. Đến năm 2013, ước tính có 84% trẻ em trên thé giới (112 triệu) nhận được 3 liều tiêm vắc xin Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván và 129 quốc gia đã đạt được tỷ lệ tiêm chủng ít nhất 90% ba mii vac xin DPT, vac xin viêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng của 183 quốc gia trên thế giới chiếm 94% tổng quốc gia, liều viêm gan B sơ sinh được triển khai tại 93 quốc gia (58%) và 81% trẻ được tiêm đủ 3 mũi viêm gan B, 38% trẻ sơ sinh được tiêm viên gan sau sinh. Tuy nhiên, theo WHO, năm 2013 trên thế giới vẫn có khoảng 21,8 triệu trẻ em bị bỏ lỡ các liều vac xin cơ bản|[46].

Bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm cũng không đồng đều ở các khu vực trên thế giới. Theo thống kê của WHO năm 2006, khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ tiêm DPT cả 3 mũi là 63%, trong khi đó, châu Phi là 73% và Trung Đông la 86%[42]. Năm 2000, trước thực trạng tỷ lệ tiêm chủng trên toàn cầu còn thấp, liên minh toàn cầu về Vắc xin và Tiêm chủng (GAV]) được thành lập nhằm hỗ trợ vắc xin cho trẻ em ở 70 quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Tổ chức có trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ, nhiệm vụ của GAVI là cứu giúp cuộc sống của trẻ em và bảo vệ sức khỏe người dân bằng cách tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ tiêm chủng ở các nước nghèo nhất trên thế giới.

Tầm nhìn của tổ chức này là từ 2016 đến 2020, có thêm 300 triệu trẻ em được tiêm chủng phòng bệnh và ngăn chặn được khoảng 5-6 triệu ca tử vong do thiếu vac xin, theo ước tính[37]. Tại Việt Nam Trên toàn quốc, chương trình tiêm chủng mở rộng được khởi xướng từ năm 1981, là kết quả của sự phối hợp của Bộ Y Tế và tổ chức Nhi Đồng Liên Hợp Quốc UNICEE. Ban đầu chương trình nhằm phòng chống 6 loại bệnh cơ bản cho trẻ em dưới 1 tuổi là Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Bại liệt, là những bệnh phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao. Sau khi thí điểm, chương trình tiêm chủng mở rộng đã dần được mở rộng phạm vi và đỗi tượng.

Năm 2010, vắc xin 5 trong I Quinvaxem được đưa vảo chương trình nhằm phòng chống 5 loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Bạch hâu, Ho gà, Uốn ván, Viêm gan B và viêm phổi, viêm mảng não do Hib. Tuy nhiên, đó cũng là thời điểm tai biến sau tiêm chủng là chủ đề thời sự được đăng tải nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng mặc dù không liên quan đến chất lượng của vắc xin, chẳng hạn như vụ việc tiêm nhầm thuốc khiến 3 trẻ tử vong ở Quảng Trị. Vắc xin 5 trong 1 Quinvaxem cũng bị nghỉ vấn bởi trong giai đoạn 2012 — 2013 có 9 ca tử vong sau tiêm chủng. Chính vì vậy, trên phạm vi toản quốc đã dừng sử dụng vắc xin này từ tháng 5 đến hết tháng 9 năm 2013 để kiểm tra chất lượng vắc xin, sau kết luận, nguyên nhân không phải do vắc xin, Bộ y tế quyết định cho tiêm lại vac xin nay vao tháng 10 năm 2013.

Mặc dù vậy, trong cộng đồng cũng dấy lên không ít lo ngại về tính an toàn cua loai vac xin nay[29]. Đầu năm 2014, dich Soi quay trở lại đã gây nên 140 trường hợp tử vong và hơn 5000 ca mắc chủ yếu ở trẻ em. Để ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, một lần nữa chính phủ với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế đã phát động chiến dịch tiêm Sởi — Rubella cho trẻ em trên toản quốc nhằm củng cố mũi tiêm 9 tháng tuổi và phòng bệnh cho những trẻ bỏ sót mũi tiêm này. Sau hơn 2 tháng triển khai chiến dịch, đã có khoảng 10 triệu trẻ được tiêm vắc xin Sởi-Rubella và chỉ ghi nhận một vài trường hợp có phản ứng dị ứng với vắc xin sau tiêm chủng.

Các trường hợp này đều được phát hiện và xử trí kịp thời. Từ giữa tháng 5 năm 2015, mũi tiêm Soi — Rubella cho trẻ 18 tháng tuôi đã được đưa vào chương trình TCMR mà mỗi trẻ em trong độ tuổi đều phải tiêm đây đủ|[32]. Đến năm 2015, Việt Nam được công nhận là quốc gia thử năm trong khu vực Tây Thái Bình Dương có khả năng sản xuất vắc xin đạt tiêu chuẩn toàn cầu của WHO về giám sát chat lượng đối với vắc xin sản xuất trong nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức và thái độ của bà mẹ về tiêm chủng cho trẻ dưới 24 tháng tại Hải Dương là một tài liệu quan trọng, tập trung vào việc đánh giá nhận thức và hành vi của các bà mẹ trong việc tiêm chủng cho trẻ nhỏ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng tiêm chủng tại địa phương mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình tiêm chủng mở rộng. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhân viên y tế và các bậc phụ huynh quan tâm đến sức khỏe trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận án thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở Việt Nam năm 2018-2019, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng kháng kháng sinh, một vấn đề y tế đáng quan ngại hiện nay. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các bệnh ký sinh trùng và cách phòng ngừa. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun lươn Strongyloides spp và kết quả điều trị bằng ivermectin tại huyện Đức Hoà tỉnh Long An 2017-2018 sẽ mang đến góc nhìn chuyên sâu về một bệnh ký sinh trùng phổ biến và phương pháp điều trị hiệu quả.