CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Các khái niệm chính trong bài Các khái niệm liên quan tới vệ sinh tay Sử dụng xà phòng khử khuẩn Rửa tay khử khuẩn Sử dụng dung dịch vệ Sử dụng xà phòng sinh tay chứa cồn thường Chà tay Rửa tay khử khuẩn VỆ SINH TAY Hình 1.1 Các khái niệm vệ sinh tay theo hướng dẫn của Bộ Y tế Các thuật ngữ trong nghiên cứu này được sử dụng theo hướng dẫn về thực hành VST trong các cơ sở khám chữa, bệnh của Bộ Y Tế ban hành năm 2017 [3]. Cụ thể như sau: Vệ sinh tay (VST, Hand hygiene): Là một thuật ngữ chung để chỉ rửa tay hoặc chà tay. Vệ sinh tay thường quy (Hand hygiene routines): Rửa tay với nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong thời gian tối thiểu là 20 giây. Vệ sinh tay ngoại khoa (Surgical hand hygiene): Là rửa tay khử khuẩn hoặc chà tay khử khuẩn được kíp phẫu thuật thực hiện trước mọi phẫu thuật.
nhằm loại bỏ phổ vi khuẩn vãng lai và định cư trên tay. (Trong nghiên cứu này không đề cấp đến vệ sinh tay ngoại khoa) Xà phòng thường (Normal/Plain soap): Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn. Xà phòng khử khuẩn (Antimicrobial soap): Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn. Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (Alcohol-based handrub): Là chế phẩm vệ sinh tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt chứa cồn isopropanol, ethanol hoặc n-propanol, hoặc kết hợp hai trong những thành phần này hoặc với một chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da; được sử dụng bằng cách chà tay cho tới khi cồn bay hơi hết, không sử dụng nước.
Rửa tay (Hand washing): Là VST với nước và xà phòng thường. Rửa tay khử khuẩn (Antiseptic handwash): Là VST với nước và xà phòng khử khuẩn [3]. Khái niệm về các bệnh truyền nhiễm trong chăm sóc y tế Các BTN trong chăm sóc y tế được xem là một hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện. BTN trong chăm sóc y tế được định nghĩa là tình trạng mắc các BTN xảy ra trên một người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc y tế ở một bệnh viện hay cơ sở y tế mà không có bất kì triệu chứng hay trong giai đoạn ủ bệnh ở thời điểm nhập viện.
Các BTN thường xuất hiện kể từ khi người bệnh đến khám tại cơ sở khám bệnh kể cả những bệnh truyền nhiễm mắc phải trong cơ sở khám chữa bệnh nhưng xảy ra sau khi đã rời khỏi đây, và những bệnh nghề nghiệp mà. NVYT mắc phải trong quá trình làm việc. Từ định nghĩa này, chúng ta thấy các BTN trong chăm sóc y tế ảnh hưởng lên cả người bệnh và NVYT [10, 14]. Khái niệm về kiến thức và hành vi Kiến thức (Knowlegde) là các thông tin đúng, được chứng minh và có niềm tin vào nó [36, 40].2 Các tác nhân thường gặp của bệnh truyền nhiễm tại cơ sở y tế Các tác nhân gây bệnh trong chăm sóc y tế là các vi sinh vật (VSV) từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể gây bệnh bao gồm vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và nấm.
Các VSV gây nhiễm trùng cũng biến đổi khác nhau theo nhóm cộng đồng dân cư, điều kiện môi trường khác nhau và có sự khác nhau giữa các quốc gia. Các bệnh truyền nhiễm tác nhân là vi khuẩn Vi khuẩn Gram dương Tụ cầu (Staphylococcus): cầu khuẩn Gram (+) không sinh nha bào, phát triển được trong môi trường ưa khí và kị khí. Tồn tại trong không khí, nước, có thể tồn tại cả ở trong môi trường khô. Lây truyền trực tiếp qua đường mũi họng, gián tiếp qua bàn tay, dụng cụ, nước, không khí, thực phẩm.
Biểu hiện lâm sàng: viêm da, niêm mạc, mụn nhọt, chốc lở, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục, hô hấp, tiêu hóa, dễ hình thành các ổ áp xe ở cơ, não, phổi; điều trị khó khăn và tỷ lệ tử vong cao. Liên cầu (Streptococcus): Liên cầu nhóm A: gây nhiễm khuẩn sản khoa, gây thấp khớp. Liên cầu nhóm B: gây bệnh ở trẻ sơ sinh, gây viêm màng não; thường vào tuần thứ 3 sau khi nhiễm mầm bệnh. Liên cầu nhóm D: thường gây nhiễm khuẩn đường ruột, gây bội nhiễm các vết thương đường tiết niệu.
Trực khuẩn uốn ván (Clotridium tetani): Là trực khuẩn kị khí, Gram (+), sinh nha bào. Nha bào gặp nhiều ở trong đất, phân của người và súc vật. Nha bào uốn ván có sức đề kháng mạnh với nhiệt và các thuốc sát trùng. Đường lây: qua vết thương của da và niêm mạc bị nhiễm nha bào uốn ván.
Những vết thương có thể nhỏ và kín đáo như vết kim tiêm, xỉa răng đến các vết thương to như sau phẫu thuật, nạo thai, cắt rốn…do những vết thương có tình trạng thiếu oxy do miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức hoại tử có dị vật, có vi khuẩn gây mủ khác. Biểu hiện lâm sàng: những cơn co giật, giật cứng, cứng hàm, tăng trương lực cơ, rối loạn thần kinh thực vật; tỷ lệ tử vong cao. Vi khuẩn Gram âm Vi khuẩn đường ruột (Salmonella): thường gây thành dịch bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, bệnh thương hàn. Escherichia Coli: gây bội nhiễm đường tiết niệu.
Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa): có đặc tính kháng các thuốc sát khuẩn và kháng sinh; thường gây bệnh ở người bệnh có sức đề kháng suy giảm. Trực khuẩn mủ xanh tồn tại trong nước, đất, rau quả, dung dịch khử khuẩn, mỡ bôi; thường gây bệnh nhiễm khuẩn huyết, nhất là gây bội nhiễm ở người bệnh bỏng, gây viêm da, viêm phổi, viêm đường tiết niệu. Klebshiella: là trực khuẩn Gram âm, ưa khí và kị khí, không tạo nha bào; tồn tại trong nước, đất, rau. có thể tồn tại trong các dung dịch khử khuẩn bảo quản không tốt như các loại mỡ bôi, xà phòng, bình làm ẩm oxy.
Lây trực tiếp qua dịch tiết mũi họng. Lây gián tiếp qua bàn tay, dụng cụ và các dung dịch nhiễm mầm bệnh. Trực khuẩn lao: vi khuẩn không có vỏ, không tạo nha bào, khó nuôi cấy và phần lập. Nguồn lây nhiễm là không khí, bụi, dụng cụ khử khuẩn không đúng quy.
Người mắc bệnh lao là nguồn lây bệnh quan trọng. Lây truyền qua đường hô hấp, trực tiếp qua các hạt nước bọt, dịch mũi họng khi tiếp xúc với người bệnh nói, ho, khạc đờm, hắt hơi. Những hạt bụi nhỏ chứa vi khuẩn lao trong không khí có thể xâm nhập vào đường hô hấp rồi gây bệnh. Trường hợp đặc biệt có thể nhiễm bệnh lao qua đường tiêu hóa [1, 14].
Các bệnh truyền nhiễm tác nhân là vi rút Vi rút cúm Có 3 loại vi rút cúm: A, B, C. Các loại vi rút cúm dễ bị diệt ở nhiệt độ thông thường, chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp. Vi rút cúm có 3 loại kháng nguyên: S, H và N. Vi rút cúm A gây bệnh nguy hiểm cho người.
Vi rút cúm A có khả năng thay đổi kháng nguyên N và H, tạo ra những týp vi rút mới nên vi rút cúm A là nguyên nhân gây ra các vụ đại dịch cúm. Nguồn bệnh trong thời gian có dịch thì người là nguồn bệnh. Ngoài dịch thì nguồn dự trữ vi rút cúm A là động vật. Nguồn dự trữ vi rút cúm A là các loài gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng, chim.
Đường lây bệnh là lây trực tiếp qua đường hô hấp. Cơ thể cảm thụ ở mọi lứa tuổi đều nhạy cảm với vi rút cúm. Người già, người có bệnh mãn tính ở đường hô hấp dễ bị nhiễm cúm nặng, có nhiều biến chứng, tỷ lệ tử vong cao. Vi rút cúm B, C thường chỉ gây bệnh ở động vật, gia cầm và ít gây nguy hiểm cho người Các vi rút gây bệnh viêm đường hô hấp cấp Trong số hơn 200 loại vi rút, thuộc 8 nhóm khác nhau và có các loại truyền nhiễm mạnh, gây viêm đường hô hấp cấp nguy hiểm trong cơ sở y tế như sau: Vi rút Rhino: gây bệnh ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở trẻ dưới 6 tuổi.
Vi rút Corona: có thể gây bệnh viêm phổi ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp dưới ở người dân trong cộng đồng và làm nặng thêm những trường hợp viêm phế quản mãn tính. Vi rút Corona được coi là thủ phạm gây bệnh dịch viêm đường hô. hấp cấp diễn biến nặng (SARS-CoV). Vi rút Corona gây ra đại dịch hội chứng hô hấp cấp Trung Đông (MERS-CoV) và gần đây nhất là đại dịch Covid-19.
Những đại dịch xảy ra để lại hậu quả nặng nề cho cả thế giới nói chung và ngành y tế nói riêng. Vi rút hô hấp hợp bào (RSV): là tác nhân chính gây bệnh đường hô hấp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là viêm đường hô hấp dưới ở trẻ sơ sinh. Lứa tuổi hay mắc bệnh là trẻ 1 - 6 tháng tuổi, gặp nhiều ở trẻ 2 - 3 tháng tuổi. Khoảng hơn 50% trẻ sơ sinh có nguy cơ nhiễm RSV.
Ở trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và người lớn, nhiễm RSV thường gặp nhưng lâm sàng nhẹ hơn. Ở người cao tuổi có thể gặp viêm phổi nặng do RSV. RSV có thể lây nhiễm tới 20 - 25% cho nhân viên làm việc ở khoa nhi, khoa phụ sản; 40% thành viên trong gia đình có thể cùng một thời gian lây nhiễm RSV. Virus Adeno: gây bệnh viêm đường hô hấp ở trẻ em và người lớn; biểu hiện viêm hầu họng, viêm kết mạc mắt và sưng đau các hạch ở vùng cổ.
Virus Adeno có thể gây viêm ngoài đường hô hấp như viêm bàng quang xuất huyết, viêm kết mạc mắt. Các vi rút gây bệnh khác Các loại vi rút viêm gan (cho tới nay có 7 loại vi rút viêm gan được ghi nhận) lây theo đường tiêu hóa và đường máu, thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài. Các vi rút lây theo đường máu có thể có nhiều phương thức lây truyền khác: lây từ mẹ sang con, lây do quan hệ tình dục, lây do truyền máu và các chế phẩm của máu, qua cấy ghép tổ chức bộ phận cơ thể, qua dụng cụ y tế. Ngoài ra vi rút HIV cũng lây truyền theo các đường máu giống vi rút viêm gan và có ảnh hưởng nghiêm trọng, vi rút HIV gây ra suy giảm miễn dịch ở người [1, 14].
Các bệnh truyền nhiễm tác nhân là ký sinh trùng, nấm Amíp Bệnh do amíp là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica. Dựa vào hình thể và sinh lý của E.hystolytica, người ta chia ra 3 thể: Thể hoạt động lớn có ở trong. phân, chỗ có nhiều nhầy máu; kích thước 15 - 30 micromet, trong bào tương chứa nhiều hồng cầu.