Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra, thanh tra của QLTT. Chương 2: Thực trạng kiểm tra, thanh tra của QLTT tỉnh Lào Cai. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra của QLTT tỉnh Lào Cai. 6 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA, THANH TRA CỦA QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG 1.
Khái niệm Quản lý thị trƣờng Như đã giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận khái niệm Quản lý thị trường dưới góc độ một thiết chế, một lực lượng. Để làm rõ khái niệm Quản lý thị trường, cần xem xét qua lịch sử hình thành của lực lượng này. Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954) một nửa nước ta được hoàn toàn giải phóng, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế trong điều kiện hết sức khó khăn; nền kinh tế tiêu điều, lực lượng sản xuất nhỏ và trình độ kỹ thuật lạc hậu, phần lớn xí nghiệp, nhà máy ngừng hoạt động, hàng hóa khan hiếm. Lợi dụng những khó khăn về sản xuất, những kẽ hở trong phân phối, tiêu thụ hàng hóa, nhất là một số sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn lại tổ chức, một số phần tử xấu trong xã hội nhân cơ hội này kích động chính trị, gây rối thị trường thông qua các hành vi đầu cơ, tích trữ hàng hóa, tạo sự khan hiếm để trục lợi, gây khó khăn cho nền kinh tế quốc dân và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc luật số 001-SL ngày 19/4/1957 và Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 163/TTg ngày 19/4/1957 về việc cấm chỉ hành động đầu cơ về kinh tế. Tiếp đó đến ngày 03/7/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 190/TTg thành lập Ban Quản lý thị trường Trung ương và Ban Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố và khu tự trị trong cả nước. Đây là mốc son đánh dấu sự ra đời của lực lượng Quản lý thị trường. 7 Luan van Ban Quản lý thị trường Trung ương có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu chủ trương, chính sách Quản lý thị trường, chống đầu cơ tích trữ; chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách đó trong phạm vi toàn quốc.
Các Ban Quản lý thị trường tỉnh, thành phố và khu tự trị có nhiệm vụ giúp Ủy ban hành chính địa phương (nay là UBND) chỉ đạo Quản lý thị trường ở địa phương mình theo chỉ đạo của Chính phủ. Ban Quản lý thị trường Trung ương và các địa phương đã tích cực, chủ động, triển khai nhiệm vụ, thu được những kết quả quan trọng, góp phần giữ ổn định thị trường nhằm đảm bảo những nhu cầu cơ bản của sản xuất và đời sống nhân dân trong các giai đoạn khắc phục, cải tạo và xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đồng thời đáp ứng nhu cầu của cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Như vậy, các Ban Quản lý thị trường ngay từ đầu đã trở thành bộ phận quan trọng của quản lý nhà nước về thương mại. Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975), số người buôn bán tăng nhanh nhưng phần đông không đăng ký kinh doanh, tình trạng trốn thuế, đầu cơ, buôn lậu, kinh doanh trái phép diễn ra phổ biến.
Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ V của Đảng xác định “Thiết lập trật tự mới xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông để góp phần ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất…tăng cường Quản lý thị trường, đấu tranh chống đầu cơ, làm ăn phi pháp”. Ngày 16 tháng 7 năm 1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Quyết định 190/CT thành lập Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương thuộc Hội đồng Bộ trưởng, để hướng dẫn chỉ đạo các ngành chức năng, các cấp tổ chức thực hiện công tác Quản lý thị trường. Tiếp theo Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị quyết 249/HĐBT ngày 02 tháng 10 năm 1985 tổ chức lực lượng chuyên trách kiểm tra kiểm soát thị trường, các Đội Quản lý thị trường trực thuộc Ban chỉ đạo Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố, đặc khu và cấp huyện, quận, thị xã được thành lập. Từ đây, lực lượng 8 Luan van quản lý thị trường chuyên trách kiểm tra, kiểm soát thị trường hình thành trên khắp các địa bàn trong cả nước [9].
Năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 35/CP giao Bộ Thương Mại chịu trách nhiệm thống nhất chỉ đạo công tác Quản lý thị trường cả nước, đồng thời chuyển giao bộ máy làm việc, tài liệu, tài sản thuộc Ban chỉ đạo Quản lý thị trường Trung ương sang Bộ Thương Mại. Để kh ng định vai trò, vị trí pháp lý của lực lượng Quản lý thị trường, Chính phủ ban hành Nghị định 10/CP (1995) quy định nhiệm vụ, quyền hạn và hệ thống tổ chức Quản lý thị trường, trong đó xác định: Quản lý thị trường là lực lượng chuyên trách được tổ chức từ Trung ương đến huyện; có chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước. Thực hiện Nghị định số 10/CP, từ năm 1995 đến nay lực lượng Quản lý thị trường trên cả nước đã được kiện toàn, tổ chức lại thành hệ thống chuyên trách từ Trung ương đến cấp quận, huyện theo địa bàn đơn vị hành chính lãnh thổ, cụ thể như sau: Ở Trung ương có Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công Thương. Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 63 Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Trực thuộc 63 Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 643 Đội Quản lý thị trường hoạt động trên địa bàn các quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Một số nơi do mới tách huyện hoặc chưa có điều kiện thành lập Đội Quản lý thị trường tại địa bàn cấp huyện nên vẫn phải hoạt động trên địa bàn liên huyện. Ngoài các Đội Quản lý thị trường hoạt động trên địa bàn quận, huyện nói trên, các Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn có một hoặc một số Đội Quản lý thị trường cơ động toàn tỉnh hoặc Đội 9 Luan van Quản lý thị trường chuyên trách chống buôn lậu, chống hàng giả, kiểm tra chất lượng hàng hoá và vệ sinh an toàn thực phẩm.theo yêu cầu cụ thể của địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định thành lập. Phiên họp lần thứ 46 ngày 08 tháng 3 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, với 100% Ủy viên biểu quyết tán thành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Quản lý thị trường; Đây được xem là văn bản pháp quy quan trọng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức…của lực lượng Quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường nội địa, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng.
Theo Điều 3 Nghị định 98/2017/NĐ-CP Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, thành lập Tổng Cục Quản lý thị trường [8]. Tuy nhiên hiện nay, cơ cấu tổ chức lực lượng Quản lý thị trường ở địa phương vẫn đang trong quá trình sắp xếp để phù hợp với quy định pháp luật mới. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Quản lý thị trường là một thiết chế (tổ chức) được thành lập từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Khái niệm kiểm tra của Quản lý thị trƣờng Để tìm hiểu khái niệm kiểm tra của Quản lý thị trường, trước hết cần làm rõ nội hàm thuật ngữ kiểm tra.
10 Luan van Kiểm tra là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, đánh giá hoạt động của các khách thể bị quản lý trong việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch được giao, pháp luật, các quy định hay một quyết định nào đó do chủ thể quản lý ban hành. Trong hoạt động của hệ thống chính trị ở Việt Nam, kiểm tra được xem xét từ hai góc độ: Thứ nhất, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của mọi cơ quan nhà nước. Đặc trưng của hoạt động kiểm tra này là tính quyền lực nhà nước. Hoạt động này chia thành 2 loại: - Kiểm tra nội bộ: Kiểm tra nội bộ là nhiệm vụ, chức năng của mọi cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
Khái niệm kiểm tra nội bộ được dùng để chỉ hoạt động kiểm tra trong nội bộ ngành, một cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan quản lý ngành và lĩnh vực tổ chức tiến hành. Hoạt động này thể hiện tính trực thuộc chặt chẽ giữa chủ thể và đối tượng bị kiểm tra, phạm vi kiểm tra bao quát mọi hoạt động, mọi vấn đề thuộc nhiệm vụ, chức năng của cơ quan cấp dưới, nhân viên dưới quyền. Thủ trưởng cơ quan có thể trực tiếp kiểm tra hoặc lập ra tổ chức giúp thủ trưởng kiểm tra. Khi tiến hành kiểm tra, thủ trưởng cơ quan, tổ chức có quyềnáp dụng mọi hình thức và biện pháp tác động thuộcquyền hạn của mình như: Khen thưởng cơ quan, cá nhân có thành tích, kỷ luật cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm, ra quyếtđịnh cưỡng chế hoặc bãi bỏ các quyết định sai trái của cấp dưới, cưỡng chế hành vi vi phạm pháp luật, kết hợp các biện pháp kiểm kê, kê biên, niêm phong tài sản, tài liệu… - Kiểm tra chức năng: là hoạt động kiểm tra do các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, hay lĩnh vực thực hiện trong việc chấp hành pháp luật, các chính sách và các quy tác quản lý về ngành hay lĩnh vực do mình quản lý thống nhất trong cả nước đối với mọi cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan.
11 Luan van Phạm vi của kiểm tra chức năng chỉ làmột mặt hoạt động nàođó của đối tượng bị kiểm tra mà không phải mọi hoạt động của đối tượng đó. Giữa chủ thể kiểm tra và các đối tượng chịu sự kiểm tra không có quan hệ trực thuộc trên dưới, mà chỉ có quan hệ về kiểm tra, quan hệ chức năng.