phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chống sản xuất buôn bán hàng giả. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả và chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trƣờng tỉnh Hải Dƣơng.
Dự báo và giải pháp chống hàng giả trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng trong thời gian tới. 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận một số tài liệu, đề tài khoa học, báo cáo khoa học, bài viết… Mặc dù có nhiều nội dung rất có giá trị và đã đƣợc tác giả kế thừa tổng hợp, phân tích và đánh giá làm tƣ liệu cho Luận văn, tuy nhiên các đề tài đều có những điểm hạn chế nhất định về nội dung, phạm vi nghiên cứu cũng nhƣ khả năng áp dụng trên thực tế, đặc biệt là trong chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Hải Dƣơng. Có thể nêu ra một số tài liệu nhƣ sau: - "Sổ tay chống hàng giả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam" của Bộ Công Thƣơng.
Sổ tay đã khái quát về hàng giả, tác hại của hàng giả; nêu các biện pháp xử lý đối hàng giả bằng biện pháp dân sự, hành chính, hình sự; đƣa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả chống hàng giả đối với nhà nƣớc, đối với doanh nghiệp, đối với ngƣời tiêu dùng và đối với ngƣời bán lẻ; thông tin về các cơ quan chức năng chống hàng giả gồm: Các cơ quan thực thi của Việt Nam, các Hiệp hội và các Tổ chức, Hiệp hội quốc tế. Tài liệu có giá trị về mặt hệ thống thông tin chung nhƣng thiếu các nghiên cứu, đánh giá chuyên sâu về mặt lý luận cũng nhƣ gắn với thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng và công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dƣơng. - Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Văn Nghiên: "Hải quan Quảng Ninh đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thƣơng mại qua biên giới" đăng trên Tạp chí Cộng sản số Chuyên đề tháng 9/2014. Bài viết đã phân tích thực trạng, hoạt động nhập khẩu hàng giả qua biên giới Quảng Ninh với hơn 120 km đƣờng bộ giáp với Trung Quốc; những thủ đoạn vi phạm, loại hàng giả phổ biến đƣợc nhập khẩu và biện pháp đấu tranh chống hàng giả đƣợc nhập khẩu của Hải quan Quảng Ninh; 5 z cung cấp những thông tin chuyên sâu về hàng giả đƣợc nhập khẩu qua kênh chính ngạch, tiểu ngạch và nhập lậu cũng nhƣ nêu ra một số bất cập trong cơ chế chính sách.
Tuy nhiên, do gắn với hoạt động hải quan nên những thông tin có thể đƣợc kế thừa không nhiều, chủ yếu là đánh giá xu hƣớng hàng giả đƣợc nhập khẩu về Việt Nam trong thời gian tới và phƣơng thức, thủ đoạn vận chuyển hàng giả từ biên giới vào nội địa. - Luận văn thạc sĩ Luật học: "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu của địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)" của tác giả Trƣơng Văn Út, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Đấu tranh phòng chống tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Đỗ Thị Lan; Luận văn tiến sĩ Luật học "Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả - Thực trạng và biện pháp phòng, chống" của tác giả Trần Ngọc Việt. Đây là các đề tài nghiên cứu về tội danh làm hàng giả, buôn bán hàng giả, khung nghiên cứu của các Đề tài này là hoạt động điều tra, hoạt động tố tụng, hoạt động xét xử gắn với hoạt động tƣ pháp. Bên cạnh việc kế thừa nội dung nhất định về mặt lý luận cũng nhƣ định hƣớng một số giải pháp chống sản xuất, buôn bán hàng giả.
Các đề tài nghiên cứu nêu trên có những điểm không phù hợp do mục tiêu nghiên cứu chính của Luận văn là hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên cơ sở quan hệ hành chính gắn với hoạt động kiểm tra hành chính của Chi cục QLTT tỉnh Hải Dƣơng; nội hàm của tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả cũng hẹp hơn khá nhiều so với vi phạm hành chính trong sản xuất, buôn bán hàng giả do gắn với yếu tố lỗi, quy mô, tính chất, trị giá, loại hàng hóa bị làm giả… - Luận văn thạc sĩ Luật học: "Đánh giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng giả trong hoạt động của QLTT" của tác giả Chu Thị Thu Hƣơng. Tác giả hiện là Phó cục trƣởng Cục QLTT - Bộ Công Thƣơng, nội dung nghiên cứu tập trung đánh giá yếu tố xâm phạm quyền trên quan điểm Luật Sở hữu trí tuệ - hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Mặc dù đề tài có những nội dung liên quan đến công tác chống hàng giả của lực lƣợng QLTT nhƣng khung nghiên cứu của Đề tài là đánh 6 z giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - thực chất là việc xem xét có hay không vi phạm - là việc tiếp cận trên phƣơng diện "kỹ thuật", các kỹ năng mang tính nghề nghiệp, trình độ chuyên môn chuyên sâu, vận dụng các quy định của pháp luật… để đƣa ra kết luận. Đây là một thao tác, một bƣớc nằm trong quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm của QLTT và đƣợc nghiên cứu theo hƣớng học thuật nhiều hơn là tác nghiệp thực tế.
Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu của Luận văn đối với lực lƣợng QLTT toàn quốc, mang tính vĩ mô; bản thân tác giả công tác trong lực lƣợng nhƣng không tham gia hoạt động kiểm tra thực tế, Luận văn đƣợc thực hiện từ năm 2006 nên có rất nhiều điểm không phù hợp cả về khung pháp lý cũng nhƣ điều kiện thực tế. - Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế "Giải pháp đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nguyễn Thanh Hiền. Tác giả hiện đang công tác tại Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên thực hiện năm 2012 có khá nhiều điểm tƣơng đồng với đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, Khung nghiên cứu của Đề tài bao gồm 2 hoạt động là "phòng" và "chống"; nội dung nghiên cứu tiếp cận khái niệm hàng giả bao gồm cả khái niệm hàng hóa xâm phạm quyền trong Luật sở hữu trí tuệ, đây là cách hiểu không phù hợp theo quan điểm nghiên cứu cá nhân cũng nhƣ theo quy định pháp luật hiện hành.
Luận văn cũng chƣa làm rõ đƣợc nguồn gốc, bản chất của hàng giả theo lý luận kinh tế chính trị Mác - Lê Nin làm cơ sở đánh giá tác hại của hàng giả, các yếu tố tác động từ đó đƣa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Phạm vi nghiên cứu gắn với hoạt động của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên có nhiều điểm khác biệt đặc biệt là cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực. Cơ sở lý luận về chống sản xuất, buôn bán hàng giả 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm và đặc điểm của hàng giả Khái niệm hàng giả: Quan niệm về hàng giả đã xuất hiện ở nƣớc ta trong nhiều năm trở lại đây, nhất là từ khi nƣớc ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung bao 7 z cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh.
Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả. "Hàng giả" là sự kết hợp của 2 từ "hàng hóa" và "giả". Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán đƣợc. Trong kinh tế chính trị Mac-Lenin, hàng hóa đƣợc định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán.
Karl Marx định nghĩa hàng hóa trƣớc hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con ngƣời nhờ vào các tính chất của nó. Đồ vật trở thành hàng hóa phải có tính ích dụng đối với ngƣời dùng - giá trị sử dụng - nghĩa là đƣợc chi phí bởi lao động và khi đƣa ra thị trƣờng để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả. Theo Từ điển tiếng Việt thì "Hàng hoá là sản phẩm dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua quan hệ trao đổi mua - bán" (2003, trang 421). Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thƣơng mại 2005: "Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tƣơng lai và những vật gắn liền với đất đai” (2005, trang 2).
Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán đƣợc. Kinh tế học hiện đại quan niệm hàng hóa bao gồm cả dịch vụ đƣợc cung ứng cho ngƣời tiêu dùng. Theo Từ điển tiếng Việt "Giả có nghĩa không phải là thật mà đƣợc làm ra với vẻ bề ngoài giống nhƣ cái thật để ngƣời khác tƣởng là thật" (2003, trang 421). Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ mở wikipedia thì hàng giả là hàng làm bắt chƣớc theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang đƣợc lƣu hành, nhƣng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn.
Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Ngƣời làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt ngƣời mua. Cách hiểu này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ theo thực tế của hàng giả mà chƣa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận hàng hóa là các sản 8 z phẩm vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian, có thể trao đổi, mua bán đƣợc.