phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mạiViệt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp đề hoàn thiện kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 9 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Tổng quan về thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm thanh khoản.
Thanh khoản là thuật ngữ tài chính nhằm để chỉ khả năng chuyển đổi một tài sản thànhtiền nhanh nhất mà thiệt hại về giá trị không đáng kể. Trong lĩnh vực ngân hàng, thanh khoảnlà thuật ngữ chỉ khả năng thanh toán của ngân hàng cũng nhƣ khả năng đáp ứng các nhu cầunhƣ rút tiền, thanh toán, vay mới. Thanh khoản của ngân hàng tốt khi đáp ứng đƣợc các yêucầu này và dễ dàng huy động vốn với một mức lãi suất hợp lý. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đểtăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”.
Nhƣ vậy thanh khoản của một ngân hàng liên quan đến tiền mặt và các dòng lƣu chuyển tiền tệ để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm. Cụ thể hơn, thanh khoản có thể đƣợc định nghĩa là khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, các nhu cầuvề sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm.Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh.
Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn có trong tay một lƣợng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động đƣợc vốn thông qua con đƣờng vay nợ hay bán tài sản.2 Cung cầu thanh khoản. Tính thanh khoản của NHTM luôn phải đƣợc nhìn ở trạng thái động, tức là xem xét trong tƣơng quan cung - cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất định. Tƣơng quan cung - cầu về vốn thanh khoản này quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào.Trong đó, cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản tiền gửi; doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi; thu hồi các khoản tín dụng đã cấp; bán các tài sản đang có; vay mƣợn trên thị trƣờng tiền tệ. Trong khi đó, cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng.
Những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm khách hàng rút tiền từ tài khoản; yêu cầu vay vốn khách hàng; thanh toán các khoản vay phi tiền gửi; chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ; thanh toán cổ tức bằng tiền. Những nhân tố tác động đến cung và cầu thanh khoản sẽ tác động đến trạng thái thanhkhoản của NHTM. Cụ thể nhƣ sau: Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản: - Các điều kiện kinh tế vĩ mô nhƣ tăng trƣởng kinh tế, lạm phát. - Lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
- Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tƣ khác. Nhân tố tác động đến nguồn cung thanh khoản: - Quy định và chính sách tiền tệ của NHNN. - Các điều kiện kinh tế vĩ mô. - Sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trƣờng tiền tệ.
- Hoạt động của các thị trƣờng khác nhƣ thị trƣờng chứng khoán phái sinh.3 Trạng thái thanh khoản. Trạng thái thanh khoản ròng NPL (net liquidity position) đƣợc xác định nhƣ sau: NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản. 11 Có ba trƣờng hợp có thể xảy ra là thặng dƣ thanh khoản, thâm hụt thanh khoản và cân bằng thanh khoản. Thặng dƣ thanh khoản xảy ra khi cung vƣợt quá cầu thanh khoản, tức là NPL dƣơng.
Trong trƣờng hợp này, nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tƣ số vốn thặng dƣ này để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần đƣợc sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai. Ngƣợc lại, khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, tức là NPL âm, ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản và tiết giảm chi phí. Cuối cùng, khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản tức là NPL=0, trƣờng hợp này đƣợc gọi là cân bằng thanh khoản.
Đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tếvì cung và cầu luôn có sựchênh lệch nhất định.4 Vai trò của thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại. Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi lẽ NHTM cần dự trữ thanh khoản đểđáp ứng tất cả những biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền, chi trảnhững chi phí thƣờng xuyên, đáp ứng yêu cầu vay mới và đảm bảo an toàn cho những cú sốc thanh khoản không mong đợi mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tƣ có kỳ hạn khác. Bên cạnh đó, đôi khi các ngân hàng có đủ tài sản để thanh toán nhƣng vẫn rơi vào mất khả năng thanh khoản do các khoản đầu tƣ, cho vay không thu hồi kịp để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn. Khi đó nguy cơ phá sản là điều có thể xảy ra.
Nếu không muốn mất thanh khoản nghiêm trọng thì ngân hàng sẽ chịu vay vốn với lãi suất cao, điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho kết quả kinh doanh của ngân hàng. Với tính chất đặc thù và hiệu ứng dây chuyền trong hệ thống ngân hàng thì thanh khoản đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Một khi thanh khoản của một NHTM có vấn đề thì sẽ lan nhanh cùng với sự lan tỏa của thông tin tạo nên hậu quả khôn lƣờng và sự khủng hoảng tâm lý. Việc rút tiền ồ ạt xảy ra tại một ngân hàng bị mất thanh khoản sẽ kéo theo một loạt các ngân hàng khác vào tình cảnh tƣơng tự.
Khi 12 thanh khoản của hệ thống ngân hàng có vấn đề sẽ ảnh hƣởng đến hệ thống tài chính quốc gia, đến mọi lĩnh vực trong xã hội từ thị trƣờng chứng khoán đến thị trƣờng bất động sản, thị trƣờng lao động, ảnh hƣởng đến tiền gửi củangƣời dân và ảnh hƣởng đến tình hình tín dụng cho nền kinh tế. Do vậy thanh khoản trong hệ thống ngân hàng rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một quốc gia.2 Rủi ro thanh khoản.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trƣờng hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mƣợn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.Rủi ro thanh khoản đƣợc hiểu là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, điều này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ ngân hàng nào là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ.
Điều này có nghĩa là, ngân hàng hoặc có sẵn lƣợng vốn khả dụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dể dàng các nguồn vốn vay mƣợn bên ngoài với chi phí hợp lý; hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở mức giá thỏa đáng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh. Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tƣợng thiếu hụt thanh khoản thƣờng là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gởi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gởi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cƣỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản cũng có thể đƣợc hiểu là sự đánh đổi giữa lợi ích ngắn hạn của ngân hàng và rủi ro tiềm ẩn trong dài hạn.
Đó cũng là một phần hệ quả của tình trạng tăng trƣởng tín dụng nóng nhiều năm liền. Khi bong bóng tín dụng xuất hiện, ngân hàng mất khả năng thanh toán những nghĩa vụ nợ đã cam kết thì việc đổ 13 vỡ của hệ thống ngân hàng là điều có thể xảy ra. Việc mất khả năng thanh toán là kết quả của một quá trình quản trị rủi ro thanh khoản chƣa phù hợp. Trong những năm gần đây, tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn tại một số ngân hàng và trở thành một trong những nguyên nhân đƣa đến phá sản đã khẳng định rằng vấn đề thanh khoản là không thể bỏ qua.
Do đó ngày nay, công tác quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn so với trƣớc đây rất nhiều, bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù về mặt kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ. Hơn nữa, năng lực quản trị thanh khoản là thƣớc đo quan trọng về tính hiệu quả tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro thanh khoản. Do rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ bên tài sản có hoặc bên tài sản nợ của bảng cân đối ngân hàng nên ngƣời ta thƣờng phân loại hai loại rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản huy động vốn. Rủi ro thanh khoản thị trƣờng là rủi ro khi ngân hàng không thể chuyển đổi hay bán tài sản của mình thành tiền mặt hoặc có thể chuyển đổi/bán đƣợc nhƣng phải chịu tổn thất lớn.