Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động KTCV của UBND cấp tỉnh. Thực trạng hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh.
7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CÔNG VỤ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Khái quát chung về hoạt động kiểm tra công vụ 1. Khái niệm và vai trò của hoạt động kiểm tra công vụ 1. Khái niệm kiểm tra công vụ Để làm rõ được nội hàm của khái niệm “kiểm tra công vụ”, trước hết chúng ta cần làm rõ các thuật ngữ tham gia cấu trúc nên khái niệm nêu trên, gồm các thuật ngữ: kiểm tra và công vụ.
Cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra, trên phương diện lý luận và thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Về phương diện hoạt động: Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn.
Về phương diện quản lý nhà nước: Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: Biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật. Kế đến, về phương diện chính trị - xã hội: Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước, theo phương diện này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền 8 lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội. Hiểu theo cách đơn giản theo từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra” được hiểu là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [21, tr.
Hay theo arold D. Koontz là một nhà lý luận tổ chức người Mỹ (1909-1984) thì kiểm tra có thể được hiểu là “ bao gồm các hoạt động mà nhà quản trị thực hiện nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch”. Trong mỗi ngành, lĩnh vực hay bất cứ tổ chức, cơ quan nào trong việc vận hành hoạt động đều cần đến hoạt động kiểm tra, đây là hoạt động vô cùng quan trọng, có thể quyết định đến sự thành bại trong hoạt động của ngành, lĩnh vực hay tổ chức, cơ quan đó. Bởi vì kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.
Ngoài tìm hiểu định nghĩa về “kiểm tra”, chúng ta còn phải hiểu thế nào là “công vụ”. Thuật ngữ “công vụ” được sử dụng rất phổ biến trong khu vực công ở Việt Nam và cả các nước trên thế giới. Ở Việt Nam công vụ lần đầu tiên được luật hóa trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tuy nhiên trong Luật này vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể về công vụ, tại Điều 2 Luật này đã đề cập đến hoạt động công vụ như sau: “hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [14]. Cho nên thuật ngữ “công vụ” được hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau.
Theo nghĩa rộng thì công vụ thuộc khu vực công tương ứng với hệ thống chính trị, chủ thể trực tiếp hoạt động trong hệ thống này đó là CBCCVC của hệ thống này trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được cấp có thẩm quyền quy định [17]. Hay theo từ điển Tiếng Việt thì công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất và rất đơn giản đó là “việc công”. Các việc này được thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích 9 cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước. Trong khi đó, ở một phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong các hoạt động của nhà nước.
Đây cũng chính là cách quan niệm về công vụ của nhiều nước trên thế giới. Theo cách hiểu này, công vụ gắn liền với con người làm việc cho cơ quan Nhà nước và những công việc của cơ quan Nhà nước do những con người trong bộ máy đó thực hiện. Cho nên, căn cứ vào những hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước, có thể hiểu công vụ là "hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước do chính những con người của Nhà nước thực hiện". Đối với từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp thì “công vụ” được hiểu là “công việc mang tính nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân, có tính chuyên nghiệp, chủ yếu do cán bộ, công chức nhà nước thực hiện” [23, tr.
Từ đó chúng ta có thể hiểu công vụ có là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Ngoài ra, công vụ mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tự, có tính thứ bậc chặt chẽ, chính quy và liên tục, được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Thực tế thì cụm từ KTCV được nhắc đến rất nhiều trong khu vực công hay ở các cơ quan hành chính nhà nước, nhưng thực chất chưa có một định nghĩa nào quy định hay định nghĩa rõ “KTCV” là gì? Và từ những phân tích, khái niệm về thuật ngữ kiểm tra, công vụ thì có thể định nghĩa rằng: “KTCV là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhằm đảm bảo cho hoạt động công vụ được hiệu quả”.2 Vai trò của hoạt động kiểm tra công vụ Nói đến vai trò của hoạt động KTCV, thì chúng ta phải hiểu vai trò là gì? Khi nói đến vai trò là đang nói đến tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát 10 triển của sự vật, hiện tượng nào đó. Vậy vai trò của hoạt động KTCV là chỉ tác dụng, mục đích và sự hiệu quả của hoạt động KTCV mang lại, gồm: Thứ nhất, góp phần đảm bảo kỷ luật, kỷ cương hành chính: Công tác KTCV nhằm rà soát, xem xét việc thực hiện các quy định về đạo đức, văn hóa giao tiếp của người CBCCVC, ngoài ra còn xem xét việc CBCCVC sử dụng thời giờ làm việc như thế nào, hạn chế tình trạng sử dụng thời gian làm việc để làm việc riêng, góp phần thực hiện đúng quy định, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, văn hóa công sở được đảm bảo.
Kịp thời phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm CBCCVC có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính. Gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá chất lượng, bình xét thi đua, khen thưởng của cơ quan, đơn vị. Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần, thái độ, chất lượng phục vụ Nhân dân của các cơ quan, đơn vị nhà nước: Qua công tác KTCV thường xuyên theo kế hoạch và đột xuất của Tổ kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị thì phát hiện các trường hợp cán bộ, công chức có thái độ, trách nhiệm vụ phục người dân chưa đúng, chưa chuẩn mực, Tổ kiểm tra kịp thời kiến nghị xử lý theo quy định, mặc khác sẽ xử lý trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra vi phạm, đánh giá thi đua đơn vị cuối năm, từ đó tạo được sự răng đe đối với CBCCVC, đặc biệt là bộ phận trực tiếp làm việc với người dân. Góp phần xây dựng đội ngũ CBCCVC có phẩm chất đạo đức ở hai mặt nghề nghiệp và công vụ, có phong cách ứng xử văn minh, có ý thức tôn trọng kỷ luật, kỷ cương hành chính, tuân thủ các quy định trong hoạt động công vụ.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính của công dân, tổ chức; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Ngoài việc nâng cao thái độ, trách nhiệm phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức thì công tác kiểm tra còn góp phần đảm bảo việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện hiệu quả, thường xuyên kiểm tra tránh được phần nào tình trạng người tiếp nhận và xử lý “vẽ” thêm các thủ tục, các bước để gây khó dễ, nhũng nhiễu người dân. Các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm, 11 tạo nên một quy trình giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo được nhanh chóng, thuận lợi và đúng quy định cho người dân và doanh nghiệp, đó cũng là bước cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Mặc khác, qua các cuộc kiểm tra, Tổ kiểm tra còn phát hiện ra những bất cập, vướng mắc trong các thủ tục hành chính, từ đó có những kiến nghị lên lãnh đạo tỉnh xem xét và hoàn thiện các bộ thủ tục hành chính. Nguyên tắc của hoạt động kiểm tra công vụ Hoạt động KTCV là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, các cơ quan, cá nhân được cơ quan cấp trên phân công thực hiện chức năng, nhiệm vụ KTCV, nhằm kiểm soát và chấn chỉnh kịp thời hoạt động quản lý nhà nước, cho nên hoạt động KTCV phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định.