Báo cáo: Kiểm toán chất thải từ hoạt động giâm hom keo lai tại Trảng Bom

Nghiên cứu kiểm toán chất thải từ giâm hom keo lai tại Đồng Nai. Đánh giá khối lượng, thành phần và đề xuất giải pháp giảm thiểu chất thải hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết nhiệm vụ

2023

64
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Tầm Quan Trọng của Kiểm Toán Chất Thải Giâm Hom Keo Lai

Kiểm toán chất thải từ hoạt động giâm hom keo lai là quá trình đánh giá và kiểm tra toàn diện về lượng, thành phần, và xử lý chất thải rắn phát sinh trong các giai đoạn giâm hom. Nghiên cứu này được thực hiện tại huyện Trảng Bom, Đồng Nai, dưới sự chỉ đạo của ThS. Vũ Thị Thu Hòa từ Khoa Tài Nguyên và Môi Trường, Phân Hiệu Trường Đại Học Lâm Nghiệp. Cây keo lai đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Với giá trị kinh tế cao, nhu cầu cây giống từ giâm hom keo lai ngày càng tăng. Tuy nhiên, quá trình này phát sinh lượng chất thải rắn đáng kể cần được quản lý hiệu quả để bảo vệ môi trường.

1.1. Khái Niệm Kiểm Toán Chất Thải

Kiểm toán chất thải là quá trình đánh giá chi tiết và toàn diện về các nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần và cách xử lý chất thải rắn. Trong bối cảnh hoạt động giâm hom keo lai, kiểm toán chất thải giúp xác định chính xác các điểm phát sinh chất thải từ sàng đất, đóng bầu, chăm sóc đến xuất cây. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các biện pháp giảm thiểu chất thải và nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.2. Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Tại Đồng Nai

Đông Nai là tỉnh có nhu cầu cây giống keo lai rất lớn với nhiều trại giâm hom hoạt động quy mô lớn. Nghiên cứu kiểm toán chất thải tại huyện Trảng Bom cung cấp dữ liệu cụ thể về tình trạng phát sinh chất thải, từ đó giúp các nhà quản lý môi trường đưa ra chính sách quản lý chất thải hiệu quả và bền vững cho ngành lâm nghiệp.

II. Phương Pháp Và Quy Trình Kiểm Toán Chất Thải

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2023, áp dụng nhiều phương pháp khoa học để đánh giá toàn diện chất thải từ hoạt động giâm hom keo lai. Phương pháp kế thừa tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu trước đó giúp xác lập cơ sở lý thuyết. Khảo sát điều tra thực địa được tiến hành tại các trại giâm hom để thu thập dữ liệu trực tiếp. Phương pháp phỏng vấn các chủ trại và công nhân cung cấp thông tin về quuy trình sản xuất. Xác định khối lượng và thành phần chất thải rắn thông qua cân bằng vật chất và phân tích mẫu. Xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê để đưa ra kết luận chính xác.

2.1. Phương Pháp Khảo Sát Và Thu Thập Dữ Liệu

Khảo sát thực địa được tiến hành tại các lô cây giâm hom keo lai trong các mùa khô và mưa để đánh giá sự biến thiên khối lượng chất thải. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp với chủ trại, công nhân cung cấp thông tin chi tiết về quy trình sản xuất, mật độ trồng, và các hoạt động chăm sóc. Các mẫu chất thải được thu thập và phân tích để xác định thành phần cụ thể.

2.2. Cân Bằng Vật Chất Và Xử Lý Số Liệu

Phương pháp cân bằng dòng vật chất giúp xác định khối lượng chất thải rắn phát sinh ở từng giai đoạn giâm hom bao gồm sàng đất, đóng bầu, chăm sóc và xuất cây. Các yếu tố ảnh hưởng như loại đất, độ ẩm, mùa vụ được phân tích. Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê xác định các khác biệt có ý nghĩa và mối tương quan giữa các biến số.

III. Kết Quả Kiểm Toán Khối Lượng Và Thành Phần Chất Thải

Kết quả nghiên cứu cho thấy chất thải rắn từ hoạt động giâm hom keo lai phát sinh trong nhiều giai đoạn khác nhau. Khối lượng chất thải dao động giữa mùa khô và mùa mưa, với các giai đoạn chính là sàng đất, đóng bầu, chăm sóc và xuất cây. Mỗi giai đoạn đóng góp tỉ lệ khác nhau vào tổng lượng chất thải. Thành phần chất thải rắn bao gồm đất thừa, nguyên liệu lót bầu, cây cỏ dại, lá rụng và các vật liệu khác. Những chất thải này được phân loại và đánh giá tính chất để định hướng xử lý phù hợp với yêu cầu môi trường.

3.1. Khối Lượng Chất Thải Theo Giai Đoạn Sản Xuất

Giai đoạn sàng đất phát sinh lượng chất thải lớn nhất do phải loại bỏ đất xấu, mảnh đá, cỏ dại. Giai đoạn đóng bầu phát sinh chất thải từ vật liệu lót bầu bị hỏng, bầu bị rách. Giai đoạn chăm sóc phát sinh chất thải từ cắt tỉa, loại cây yếu, cỏ dại. Lượng chất thải rắn tăng đáng kể vào mùa mưa do tăng tốc độ phát triển cỏ dại và bệnh lý cây con.

3.2. Thành Phần Và Đặc Điểm Chất Thải

Chất thải rắn từ giâm hom chủ yếu bao gồm: đất thừa (40-45%), vật liệu che phủ bầu (15-20%), cây cỏ dại (20-25%), lá cây và cành khô (10-15%), và các chất khác. Hầu hết các loại chất thải này có khả năng phân hủy sinh học hoặc tái sử dụng, tạo cơ hội cho xử lý bền vững và giảm thiểu tác động môi trường.

IV. Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Và Kiến Nghị

Dựa trên kết quả kiểm toán chất thải, nghiên cứu đề xuất các biện pháp giảm thiểu chất thải rắn từ hoạt động giâm hom keo lai tại đầu vào và đầu ra. Đối với nguyên liệu đầu vào, cần cải tiến quy trình sàng đất, lựa chọn loại bầu phù hợp, sử dụng nguyên liệu lót bầu hiệu quả. Đối với chất thải đầu ra, nên ưu tiên tái sử dụng, phân loại chất thải, xử lý bằng phương pháp compost hoặc trộn cải tạo đất. Các biện pháp quản lý chuyên nghiệp giúp giảm khối lượng chất thải 20-30% mà vẫn đảm bảo chất lượng cây con, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

4.1. Biện Pháp Giảm Thiểu Tại Đầu Vào

Cải tiến quy trình sàng đất bằng sử dụng thiết bị sàng hiệu quả để giảm đất thừa. Lựa chọn vật liệu lót bầu chất lượng cao, bền, tái sử dụng được giúp giảm chất thải. Quản lý cỏ dại hiệu quả bằng phun thuốc định kỳ, che phủ ngăn cỏ mọc. Kiểm soát mật độ cây và giãn cách hợp lý. Đào tạo công nhân về kỹ thuật sàng đất, đóng bầu để giảm tỉ lệ hỏng bầu.

4.2. Giải Pháp Xử Lý Chất Thải Bền Vững

Tái sử dụng chất thải như đất thừa dùng để cải tạo đất yếu, vật liệu lót bầu rửa sạch tái dùng. Phân loại chất thải chi tiết để dễ xử lý. Phương pháp compost hóa chất thải hữu cơ tạo phân bón cho trồng trọt. Trộn chất thải vào đất để cải tạo độ cơ. Lập các bãi xử lý chất thải rắn hiệu quả, bảo vệ môi trường xung quanh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về kiểm toán chất thải 1. Khái niệm về kiểm toán chất thải Theo tiêu chuẩn ISO 14010 (1996) thì KTMT được định nghĩa như sau:“KTMT là một quá trình thẩm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản,bao gồm việc thu thập và đánh giá một cách khách quan các bằng chứng nhằm xác định những hoạt động, sự kiện, hệ thống quản lý liên quan đến môi trường hay các thông tin về những kết quả của quá trình này cho khách hàng”. Theo Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Thị Vân Hà năm 2003 thì KTMT được hiểu một cách khách quan: “Tổng hợp các hoạt động điều tra, theo dõi có hệ thống theo chu kỳ và đánh giá một cách khách quan đối với công tác tổ chức quản lý môi trường, quá trình vận hành công nghệ sản xuất, hiện trạng vận hành của trang thiết bị,…với mục đích kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ của các đơn vị, các nguồn tạo ra chất thải đối với những chính sách của nhà nước về môi trường”.

Theo khoản 1, điều 74, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Kiểm toán môi trường là việc xem xét, đánh giá có hệ thống, toàn diện hiệu quả quản lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Nội dung chính của kiểm toán môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bao gồm: - Việc sử dụng năng lượng, hóa chất, nguyên liệu, phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất; - Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải. Cùng với sản xuất sạch hơn, kiểm toán chất thải là công cụ quản lý môi trường nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm ngay từ quá trình sản xuất tại cơ sở công nghiệp. Kiểm toán chất thải bao gồm việc rà soát, kiểm tra các quá trình sản xuất, xác định nguồn thải và khối lượng chất thải, tính toán cân bằng vật chất, xác định các vấn đề trong vận hành sản xuất, để từ đó đề ra các giải pháp để giảm thiểu phát sinh chất thải ra môi trường.

2 Có thể nói kiểm toán chất thải là một lĩnh vực chuyên sâu của KTMT đã được tiêu chuẩn hóa bằng ISO 14010 và ISO 14011:1996. “Kiểm toán chất thải là quá trình kiểm tra sự tạo ra chất thải nhằm giảm nguồn, lượng chất thải phát sinh. Kiểm toán chất thải là một loại hình của kiểm toán môi trường. Kiểm toán chất thải là một công cụ quản lý quan trọng có hiệu quả kinh tế đối với nhiều cơ sở sản xuất” (Trịnh Thị Thanh & Nguyễn Thị Hà, 2003).

Kiểm toán chất thải bao gồm các việc rà soát, kiểm tra các quá trình sản xuất, xác định nguồn phát thải, khối lượng chất thải và các vấn đề trong quá trình vận hành sản xuất, từ đó có thể đề ra các giải pháp để giảm thiểu phát sinh chất thải ra môi trường. Với định nghĩa như trên thì việc kiểm toán chất thải được thực hiện với các mục đích sau: - Cung cấp các thông tin về công nghệ sản xuất, các nguyên vật liệu sử dụng, các sản phẩm và các dạng chất thải; - Xác định các nguồn thải và các loại chất thải phát sinh; - Xác định các bộ phận kém hiệu quả trong dây truyền sản xuất như: Quản lý kém, hiệu suất sử dụng nguyên liệu, năng lượng thấp, thải nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường thông qua các tính toán cân bằng vật chất; - Đề ra các chiến lược quản lý và giải pháp giảm thiểu chất thải.2 Vị trí, vai trò của kiểm toán chất thải trong kiểm toán môi trường Kiểm toán chất thải là một dạng kiểm toán môi trường phổ biến nhất. Đối tượng chính của kiểm toán môi trường là các cơ sở sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, vấn đề môi trường lớn nhất đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đó là việc phát sinh các chất thải và quản lý chất thải.

Do đó, kiểm toán chất thải là loại kiểm toán môi trường được tiến hành nhiều nhất và được quan tâm nhiều nhất. Ở nước ta hiện nay, kiểm toán môi trường được thực hiện chủ yếu là các cuộc kiểm toán chất thải của các công ty, nhà máy lớn. Kiểm toán chất thải là một công cụ quản lý hữu hiệu để các cơ sở sản xuất kinh doanh tự đánh giá quá trình phát sinh, kiểm soát chất thải của mình. 3 Do là một dạng của kiểm toán môi trường nên quy trình thực hiện và các nội dung của kiểm toán chất thải vẫn mang những nét chung cơ bản của kiểm toán môi trường.

Tuy nhiên, do đặc trưng là đi sâu xác định và đánh giá các chất thải phát sinh nên quy trình và nội dung của kiểm toán chất thải cũng được biến đổi để phù hợp với tình hình cụ thể. Quy trình các bước kiểm toán chất thải Kiểm toán chất thải được thực hiện qua những quy trịnh cụ thể và mỗi nước sẽ có các quy định riêng nhưng tất cả đều dựa trên quy định cơ bản bao gồm các bước: - Khảo sát quá trình, thu thập số liệu về đầu vào, đầu ra của các công đoạn sản xuất (nguyên liệu, năng lượng, nước và sản phẩm); - Xác định loại hình, nguồn, khối lượng chất thải; - Nghiên cứu tính toán cân bằng vật chất; - Xác định các nguyên nhân gia tăng chất thải; - Nghiên cứu, đề xuất và xác định hiệu quả kinh tế của các giải pháp giảm thiểu chất thải; - Thực hiện các giải pháp giảm thiểu phát sinh chất thải. Giâm hom Giâm hom là phương pháp nhân giống vô tính cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng, được sử dụng rộng rãi trong nghề trồng trọt, nhất là trong sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp và cây cảnh. Bộ phận sử dụng chủ yếu để giâm hom là thân, lá hoặc rễ.

Ưu điểm của phương pháp giâm hom là: - Giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ. - Tạo ra cây giống sau trồng sớm ra hoa kết quả. - Thời gian nhân giống nhanh. - Có thể nhân nhiều giống mới từ một nguồn vật liệu giới hạn ban đầu.

Nhược điểm: 4 - Đối với những giống khó ra rễ, sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết để có thể khống chế được điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng trong nhà giâm. - Dễ bị nhiễm bệnh nếu không xử lý tốt hom giâm và nền giâm. - Giá thành đầu tư ban đầu cao. Tình hình nghiên cứu liên quan tới nhiệm vụ 1.

Trên thế giới Từ năm 1980, trên thế giới đã có nhiều nước nghiên cứu và ứng dụng về kiểm toán chất thải. Quy trình KTCT đối với từng ngành đã được lập, nhiều tài liệu, sách về KTCT đã được xuất bản. Ở Úc, KTCT trong các ngành công nghiệp đã được giới thiệu như là một công cụ hỗ trợ cho việc quản lý chất thải, bên cạnh các công cụ khác như sản xuất sạch hơn và đánh giá vòng đời sản phẩm. Cục Các ngành công nghiệp cơ bản, Công viên, Nước và Môi trường của bang Tasmania, Ôxtrâylia khuyến cáo các doanh nghiệp nên sử dụng KTCT, với các nội dung như xác định các nguồn thải; số lượng và các loại chất thải được tạo ra; xác định nguyên nhân làm gia tăng chất thải; Thiết lập các mục tiêu/giải pháp và thứ tự ưu tiên cho việc giảm phát sinh chất thải.

Một số ngành công nghiệp đặc thù gây tổn hại tới môi trường như khai thác mỏ, sản xuất hóa chất thì được khuyến khích tuân thủ theo các Quy chế về Thực hành quản lý môi trường tốt nhất (BPEM) được chính quyền Ôxtrâylia thiết kế riêng cho mỗi ngành. Ví dụ, như đối với ngành khai thác mỏ đã được Cục bảo vệ môi trường Ôxtrâylia ban hành năm 1995, trong đó bao gồm cả quy định về KTCT và nộp báo cáo kiểm toán hàng năm. Bỉ là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (EU) nên phải tuân thủ những quy định về môi trường do EU ban hành, trong đó có Quy trình kiểm toán quản lý sinh thái (EMAS), năm 2001. Đến năm 2004, đã có 150 doanh nghiệp ở các tỉnh thuộc vùng Flanders của Bỉ tham gia thực hiện EMAS và sau đó là 22 doanh nghiệp khác.

Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đã tự nguyện áp dụng các quy trình này không chỉ với mục đích để đạt được các chứng chỉ môi trường. Một trong những công ty đầu tiên của Bỉ thực hiện KTCT 5 là công ty Shred it Belgium. Công ty này, năm 2007, đã tái chế 1.650 tấn chất thải và thực hiện tính toán “Dấu chân Carbon”, làm giảm lượng carbon từ hoạt động vận tải, trở thành công ty đầu tiên của Bỉ đạt CO2 trung tính. Canada, theo quy định Ontario 102/94 của Bộ Môi trường và Năng lượng, các cơ sở sản xuất bắt buộc thực hiện KTCT.

Quy định này cũng nêu rõ các cơ sở giáo dục, bệnh viện, nhà nghỉ khách sạn, cở sở sản xuất, các tòa nhà công sở, nhà hàng và các cơ sở bán hàng phải thực hiện chương trình giảm thiểu chất thải bao gồm 4 bước trong đó có thực hiện KTCT; Thời gian một báo cáo KTCT phải được lưu trữ dưới dạng file ít nhất 5 năm và phải chỉ ra được loại vật liệu hoặc sản phẩm nào được doanh nghiệp sử dụng là vật liệu hoặc sản phẩm tái chế. Bên cạnh đó, Canada rất chú trọng tới việc xem xét quy trình sản xuất của doanh nghiệp như là một thông tin đầu vào để thực hiện kiểm toán, từ đó đề xuất các khâu có thể giảm thiểu chất thải cũng như nguyên liệu sản xuất. Ở Ấn Độ, khái niệm KTMT trong ngành công nghiệp chính thức được giới thiệu từ tháng 3/1992 với mục đích chung là giảm sự lãng phí tài nguyên và thúc đẩy sử dụng công nghệ sạch nhằm giảm thiểu phát thải. Bộ Môi trường và Rừng đã ban hành thông tư số GSR 329(E) vào tháng 3/1992 đưa ra yêu cầu bắt buộc nộp Báo cáo KTMT hàng năm đối với các cơ sở công nghiệp, trong đó phải thể hiện các thông tin về quản lý từng nguồn thải.

Để thúc đẩy hoạt động KTMT, Ban Kiểm soát ô nhiễm quốc gia (CPCB) đã tổ chức tập huấn, đào tạo, thực hiện các mô hình trình diễn và xây dựng hướng dẫn KTMT cho các ngành công nghiệp ô nhiễm cao như thuốc bảo vệ thực vật, giấy và bột giấy, đồ uống, dệt nhuộm. Đối với Thái Lan, hoạt động KTCT đã nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức và doanh nghiệp. Viện Công nghệ Châu Á (AIT) đã đưa nội dung này vào đạo tạo từ những năm đầu thập kỷ 90.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ