CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CÔNG TÁC THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm ngân sách Nhà nước Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm ngân sách Nhà nước: Theo từ điển Bách Khoa toàn thư của Liên xô cũ cho rằng: ngân sách Nhà nước là một bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước, của cơ quan xí nghiệp hoặc của cá nhân.
Trong từ điển tiếng Anh thuật ngữ ngân sách Nhà nước được coi như bảng kế toán về khả năng thu nhập và chi tiêu của một quốc gia trong giai đoạn nhất định thường là một năm. Do vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được mặt bản chất, tức là nội dung KT-XH chứa đựng bên trong của NSNN, muốn vậy NSNN phải được xem xét trên các giác độ khác nhau. Xét về hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi do chính phủ lập ra, để trình quốc hội phê chuẩn và giao cho chính phủ tổ chức thực hiện. Xét về thực thể, NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng.
Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong NSNN, ta thấy các khoản thu NSNN, các khoản chi NSNN chính là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình này, xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối các nguồn tài chính. Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015 có hiệu lực thi hành năm 2017, đã nêu “là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và 7 thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Đặc điểm của ngân sách Nhà nước + Phần lớn các khoản thu của NSNN đều mang tính cưởng bức (bắc buộc), các khoản chi mang tính cấp phát (không hoàn trả trực tiếp) trừ trường hợp góp vốn tham gia các tổ chức kinh tế.
Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối của cải xã hội bằng quyền lực kinh tế và chính trị của mình, do đó các quan hệ kinh tế thuộc nội dung NSNN chịu sự điều chỉnh của Nhà nước theo yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn nhất định. + Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối các nguồn tài chính; Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ. Ví dụ như Luật thuế, các chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu. do Nhà nước ban hành.
+ Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính; thể hiện mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước với một bên là xã hội. Trong mối quan hệ đó lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác. * Hệ thống các quan hệ tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN tạo nên bản chất kinh tế của NSNN, thể hiện ở các mối quan hệ chủ yếu: quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính, sự nghiệp, phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập; quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính. Khái niệm về hệ thống NSNN, nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN và nội dung phân cấp quản lý NSNN 1.
Khái niệm hệ thống NSNN Hệ thống NSNN là một tổng thể thống nhất bao gồm nhiều cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau và được tổ chức theo những nguyên tắc nhất định. + Tổ chức hệ thống NSNN là việc xác định các cấp ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu - chi, quản lý ngân sách theo những nguyên tắc nhất định. 8 + Sự hình thành hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp cũng như phù hợp với mức độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội cho các cấp chính quyền và khả năng điều hành quản lý ngân sách của mỗi cấp chính quyền. Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN Việc tổ chức hệ thống NSNN phải đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia NSNN được quản lý thống nhất, do đó việc đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia là một nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức hệ thống NSNN.
Nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch có phân công, phân cấp quản lý gắn quyền hạn với trách nhiệm. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước ta; do đó cũng đồng thời là nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN. Mặt khác, theo tinh thần Luật NSNN, tính công khai cũng là một vấn đề mang tính nguyên tắc trong quá trình quản lý, điều hành NSNN. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NGÂN SÁCH TW NS ĐỊA PHƯƠNG NS TỈNH, NS thành phố NS TP, Thị xã, NS huyện, NS quận : Quan hệ cấp trên – dưới : Quan hệ trong hệ thống NS thị trấn NS xã, phường Sơ đồ 1.
Cơ cấu hệ thống NSNN ở nước ta hiện nay 9 Ngân sách Trung ương Về cơ cấu, ngân sách trung ương bao gồm ngân sách cơ quan lập pháp quốc hội, ngân sách cơ quan hành pháp (các bộ ngành…) và ngân sách của cơ quan tư pháp (tóa án). Ngân sách trung ương là công cụ kinh tế để chính phủ quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn xã hội. Ngân sách địa phương Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp; Theo quy định của Việt Nam ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện (huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh) và ngân sách cấp xã. Ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp mình hợp thành.
Ngân sách xã, phường, thị trấn chưa có đơn vị dự toán trực thuộc. NS mỗi cấp được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. + Thực hiện cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm tính công bằng và yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới.
+ Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào thì do ngân sách cấp đó cân đối. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. + Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác. Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN Một là, phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước (HĐND và UBND).
Hai là, Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước. Ba là, Phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu cũng như số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân 10 sách cấp dưới từ 3 đến 5 năm. Hằng năm, trong trường hợp có trượt giá chỉ xem xét điều chỉnh tăng số bổ sung cho ngân sách cấp dưới theo một phần trược giá. Bốn là, kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng thu và yêu cầu chi; Chính phủ, UBND tỉnh thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
Nội dung phân cấp quản lý NSNN + Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa cấp chính quyền trong việc ban hành chính sách, chế độ thu, chi, quản lý ngân sách. + Giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp trong việc xác định nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách. Ví dụ: quy định rõ ràng nguồn thu nào ngân sách các cấp được thu 100% và nguồn thu điều tiết giữa các cấp ngân sách; tỷ lệ điều tiết… Quy định nội dung từng khoản chi, phạm vi chi tiêu ngân sách của từng cấp ngân sách. + Giải quyết mối quan hệ giữa các cấp trong việc thực hiện chu trình quản lý NSNN.
NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN 1. Khái quát ngân sách cấp huyện 1. Sự hình thành và phát triển ngân sách cấp huyện Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, ngân sách nhà nước ta tổ chức thành hai cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, thành phố. Việc phân cấp như vậy là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối đa nguồn lực tài chính.
Ở thời kỳ này, ngân sách cấp huyện đóng vai trò là một cấp dự toán. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN. Cùng với đà đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách cấp huyện cũng đã xác định lại vai trò, nhiệm vụ của mình. Cụ thể, ngày 27/11/1989 HĐBT đã ra Nghị quyết số 186/HĐBT về phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có ngân sách huyện.
Ngày 16/5/1992, HĐBT ban hành Quyết định số 168-HĐBT sửa đổi bổ sung Nghị quyết 186/HĐBT 11 ngày 27/11/1989. Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX khẳng định: Huyện là một cấp chính quyền có ngân sách, ngân sách cấp huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương thuộc hệ thống ngân sách nhà nước. Như vậy, ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện.