CHƯƠNG 1. KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT SAU CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay khách hàng cá nhân 1. Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Khi sử dụng bất kỳ khoản cho vay nào, người đi vay đều phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu. Phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lợi tức. Lợi tức từ khoản vay chính là thu nhập mà người cho vay nhận được từ người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay. Xét về bản chất, lợi tức khoản vay là giá mà người đi vay phải trả cho người cho vay để có được quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định.
Theo Stewart (2006), “cho vay là một hình thức giao dịch mà theo đó tiền được giao cho bên vay, trong thời hạn của khoản vay, người đi vay được sử dụng khoản tiền vay đã thỏa thuận và giữa các bên cam kết có hoàn trả một khoản tiền tương đương hoặc lớn hơn giá trị ban đầu theo yêu cầu vào một ngày nhất định hoặc theo tiến độ trả nợ đã được thỏa thuận”. Hay theo quan điểm của nhà kinh tế học David S.Kidwell cho rằng “Về tài chính, cho vay là khoản nợ do một tổ chức hoặc cá nhân cung cấp một khoản tiền cho một tổ chức khác, người đi vay ban đầu nhận được một khoản tiền từ người cho vay và có nghĩa vụ hoàn trả hoặc trả lại số tiền tương đương cho người cho vay trong khoảng thời gian nhất định. Khoản nợ cho vay thường được cung cấp với chi phí, được gọi là lãi suất cho vay. Trong khoản vay hợp pháp, mỗi nghĩa vụ và hạn chế được thi hành theo hợp đồng đã thỏa thuận giữa hai bên”.
Theo luật các tổ chức tín dụng (2010), “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay khách hàng cá nhân là khoản cho vay áp dụng cho khách hàng là các 10 cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Thứ nhất, cho vay dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp cho vay cho khách hàng, cá nhân hay doanh nghiệp, khi có lòng tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng cho vay, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc và lãi) đúng hạn. Thứ hai, cho vay là việc chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay. Nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do vậy, tất cả các khoản cho vay ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động.
Thứ ba, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lăi. Đây chính là thuộc tính riêng có của cho vay. Người đi vay phải trả thêm một khoản lăi ngoài gốc, là chi phí của việc sử dụng vốn vay. Đây là nguồn để ngân hàng bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngoài ra, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn mang một số đặc điểm riêng như: Thứ nhất, xét về mặt quy mô. Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các khoản cho vay cấp cho khách hàng cá nhân là tương đối nhỏ so với cho vay cấp cho doanh nghiệp. Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đă có số vốn tương đối và chỉ bổ sung phần còn thiếu.
Tuy nhiên đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xă hội với nhu cầu hết sức đa dạng. Do đó tổng quy mô các khoản cho vay cá nhân là cũng khá lớn. Thứ hai, xét về mặt lãi suất. Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp.
Số lượng các khoản vay thường rất lớn, nhưng quy mô mỗi khoản vay 11 lại nhỏ. Để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lăi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. Tuy nhiên, khách hàng thường quan tâm đến số tiền mà khách hàng phải trả hơn là lãi suất mà khách hàng phải chịu. Thứ ba, xét về nhu cầu vay.
Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. Thứ tư, xét về nguồn trả nợ. Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ lương, cho thuê tài sản, và thu nhập từ kinh doanh. Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kĩ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ.
Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn. Thứ năm, ở khía cạnh rủi ro. Các khoản vay cá nhân thường có độ rủi ro cao do chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp thường không cao. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Căn cứ vào thời gian, đối tượng và phương thức cho vay thì cho vay KHCN có các loại sau: Cho vay theo thời hạn tín dụng - Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay KHCN có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
Đặc điểm của loại hình tín dụng này là mức độ rủi ro thấp hơn so với cho vay trung dài hạn vì thời hạn hoàn vốn nhanh nên giảm được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Do đó, cho vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn. - Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay KHCN có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. Được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư bất động sản, cho vay tiêu dùng.
Đây là nhu cầu vay vốn mà khi NHTM cho vay sẽ mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng, bởi vì hoạt động sản xuất kinh doanh của KHCN thường nhỏ lẻ, vòng quay vốn ngắn, dòng tiền của KHCN thường ra vào liên tục, không ổn định trong kinh 12 doanh nên khi cho vay vốn trung hạn thì NHTM cần phải xác định chính xác dòng tiền để xác định lịch trả nợ phù hợp cho khách hàng. - Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng. Trong cho vay KHCN thì cho vay dài hạn ít phát sinh vì trình độ và khả năng quản lý trong sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ và vừa nên việc đầu tư tài sản với quy mô lớn, thời gian đầu tư dài sẽ vượt ngoài tầm khả năng của KHCN. Cho vay theo hình thức đảm bảo - Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là hình thức cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố của KHCN đi vay.
Ngân hàng cấp tín dụng chủ yếu dựa trên cơ sở uy tín, nguồn trả nợ dự phòng dựa vào bản thân năng lực và triển vọng tài chính của KHCN nên cho vay không có đảm bảo còn được gọi là cho vay tín chấp. Cho vay tín chấp thường được áp dụng đối với khách hàng truyển thống, duy trì quan hệ lâu dài và uy tín với ngân hàng, thực hiện việc trả nợ đầy đủ và đúng hạn. - Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là hình thức cho vay đòi hỏi KHCN phải có tài sản thế chấp, cầm cố của KHCN đi vay hoặc của bên thứ ba. Cho vay theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần: mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này thích hợp với những KHCN có nhu cầu vốn không thường xuyên hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh có tính chất mùa vụ. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói cách khác đây là hình thức cấp tín dụng trong đó khách hàng được quyền rút vốn theo hạn mức tín dụng đã được cấp trong một khoảng thời gian nhất định. Khách hàng chỉ phải lập 01 hồ sơ cho nhiều khoản vay trong một chu kì kinh doanh của mình.
Tổng doanh số cho vay trong thời gian cho vay có thể lớn hơn hạn mức tín dụng nếu khách hàng thường xuyên trả nợ. Phương thức vay này chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số vay do đó thích hợp với những KHCN có nhu cầu vốn thường xuyên, tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh và có uy tín. 13 - Cho vay theo phương án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các phương án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Theo đó, ngân hàng cùng KHCN cùng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn cho vay của phương án, phân định các kỳ trả nợ, và thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.
Kiểm soát sau cho vay khách hàng cá nhân của chi nhánh ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về kiểm soát sau cho vay khách hàng cá nhân Kiểm soát là quá trình giám sám, đo lường, chấn chỉnh sự việc, hiện tượng nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch với hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn luôn biến đổi. Kiểm soát là chức năng cuối cùng của quy trình quản lý (một quy trình quản lý gồm 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát). Kiểm soát là hoạt động không thể thiếu được trong quy trình quản lý.
Nếu việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo làm tốt mà chức năng kiểm soát không thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì kết quả có thể sẽ không đúng như kế hoạch đề ra, hoặc do những biến động của môi trường hoặc do chủ định của những người thực hiện.