phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương, 07 tiết. Chƣơng 1: Lý luận về kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT 1. Lý luận về kiểm soát quyền lực trong Đảng 1. Quan niệm về quyền lực trong Đảng 1. Quyền lực và quyền lực chính trị Quyền lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Trong khoa học chính trị, quyền lực là phạm trù trung tâm. Có nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực, tiếp cận từ những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra những cách lý giải khác nhau về phạm trù này. Ở góc độ khái quát, có thể hiểu “quyền lực là khả năng đề ra và thực hiện được các chiến lược 9 chuyển đổi các nguồn lực để đạt được kết quả mong muốn, có tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người khác trong quá trình phối hợp hành động chung” [21, tr. Khi xã hội phân chia giai cấp, các giai cấp, các lực lượng xã hội thường có xu hướng sử dụng sức mạnh của mình để tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.
Quyền lực chính trị xuất hiện. Quyền lực chính trị là khả năng áp đặt ý chí và triển khai các biện pháp thực thi ý chí để đạt được mục tiêu của chủ thể chính trị đối với đối tượng chịu sự kiểm soát của chủ thể. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam là quyền lực chính trị, là quyền lực của một tổ chức chính trị “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Đảng thực thi quyền lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội mà mình đại diện bằng cách tác động vào Nhà nước, để thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước, hiện thực hóa quyền, lợi ích và ý chí của lực lượng xã hội mà mình đại diện.
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng. Đặc biệt, trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, chỉ có một đảng chính trị nên Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có vai trò lãnh đạo, vừa có vai trò cầm quyền. Đảng một lúc phải thực thi hai loại quyền lực, quyền lực chính trị (lãnh đạo) và quyền lực nhà nước (cầm quyền). Quyền lực lãnh đạo có thể không chính thức, chỉ được thừa nhận bởi nhân dân.
Đảng lãnh đạo bằng tính tiên phong, bằng sự hấp dẫn của lý tưởng và giá trị mà Đảng theo đuổi, thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương. Đảng phải thể hiện “là đạo đức, là văn minh”, là “không có mục đích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân” [29]. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội (với bên ngoài) Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị…; thông qua các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục, động viên, tổ chức thực hiện và Đảng phải lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước về việc thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách,… mà Đảng ban hành. Đặc trưng của thể chế chính trị Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, được Hiến pháp 2013 quy định: Đảng có quyền lực chính trị ở những quyết sách về đường lối, chủ trương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, về công tác tổ chức cán bộ hay công tác kiểm tra, giám sát… Với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị…; lãnh đạo thông qua các tổ chức, cá nhân, cụ thể là lãnh đạo công tác cán bộ, phân công các đảng viên nắm giữ các cương vị chủ chốt ngay trong bộ máy nhà nước. Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước qua các hình thức sau: Thứ nhất, thông qua các cơ quan lãnh đạo, cơ quan chức năng của Đảng trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan của bộ máy nhà nước. Thứ hai, thông qua việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kiểm soát nhà nước, tức là xây dựng đường lối, đề ra chủ trương, nghị quyết, chính sách,… để thực hiện việc kiểm soát.
Do vai trò đặc biệt của Đảng Cộng sản là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã 11 hội nên hầu như mọi cơ chế, chính sách kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng cũng đồng thời liên quan đến sự kiểm soát quyền lực chính trị trên phạm vi xã hội. Hiến pháp năm 2013 quy định: trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, Đảng phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Với tư cách là lực lượng lãnh đạo, Đảng thực hiện kiểm soát quyền lực đối với nhà nước và xã hội thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ của đảng với tư cách là đảng viên mà còn cả trong việc thực hiện pháp luật nhà nước. Đảng không chỉ giới thiệu cán bộ bầu cử, bố trí vào vị trí lãnh đạo các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội mà còn quyết định kỷ luật đảng viên trong cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội nếu vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước [28, tr.
Quyền lực trong Đảng (nội bộ) Quyền lực trong Đảng là hệ thống các cơ chế được thực hiện trong Đảng nhằm bảo đảm việc thực thi quyền lực của Đảng đúng mục đích và hiệu quả. Quyền lực trong Đảng cộng sản Việt Nam là quyền lực được lịch sử xây dựng và phát triển của dân tộc Việt Nam lựa chọn, là quyền lực được hiến định. Cơ sở của quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam là quyền lực từ đảng viên trao quyền để hình thành nên các vị trí quyền lực trong Đảng. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng có quyền lực cầm quyền, điều này thể hiện rõ trong Hiến pháp.
Điều 4, Hiến pháp năm 2013 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, như vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội mang tính pháp lý, trở thành nguyên tắc hiến định. Quyền lực của Đảng là quyền lực của lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực của Đảng giới hạn bởi các tổ chức đảng, đảng 12 viên, phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp. “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [27, tr.
Quyền lực chính trị của Đảng là rất lớn, vì vậy cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng. Trước hết, rất cần đến những thiết chế được xây dựng và thực thi ngay chính bản thân nội bộ Đảng. Mọi quyền lực của tổ chức đảng có thẩm quyền đều phải được quy định bằng văn bản có tính pháp lý. “Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm” [28, tr.
Quan niệm về kiểm soát quyền lực trong Đảng 1. Khái niệm kiểm soát quyền lực, kiểm soát quyền lực trong Đảng “Kiểm soát quyền lực là khả năng phát hiện, ngăn chặn những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực, buộc các chủ thể này phải thực hiện đúng mục đích mà chủ thể trao quyền đặt ra bằng các công cụ, thể chế hay cơ chế nhất định” [21, tr. “Kiểm soát quyền lực trong Đảng là việc các tổ chức đảng, đảng viên của Đảng sử dụng các công cụ, các quy định của thể chế hay cơ chế nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục tiêu, tôn chỉ ban đầu của Đảng” [21, tr. Đảng thực hiện cơ chế tự kiểm soát bằng các hình thức sinh hoạt đảng như tự phê bình và phê bình, kỷ luật đảng, hoạt động kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng từ chi bộ đến Trung ương theo Điều lệ Đảng.
Cơ chế kiểm soát trong Đảng được thiết lập và quy định trong Điều lệ Đảng như sau: 13 Một là, cơ chế ủy quyền,“Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo Đảng giữa hai kỳ Đại hội là Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra. Ban Chấp hành Trung ương bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Bộ Chính trị thực hiện lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Đại hội, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, báo cáo công việc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương.