Kiểm soát quyền lực trong đảng thông qua hoạt động kiểm tra giám sát ở đảng bộ thị xã hoài nhơn tỉnh bình định

Tài liệu nghiên cứu Kiểm soát quyền lực trong đảng thông qua hoạt động kiểm tra giám sát ở đảng bộ thị xã hoài nhơn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2020

94
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT

1.1. Lý luận về kiểm soát quyền lực trong Đảng

1.2. Quan niệm về quyền lực trong Đảng

1.2.1. Quyền lực và quyền lực chính trị

1.2.2. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.3. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1. Khái quát về Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn và Ủy ban Kiểm tra Thị ủy Hoài Nhơn

2.2. Thực trạng kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

2.3. Đánh giá thực trạng kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

2.3.1. Những mặt đạt được và nguyên nhân

2.3.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.2. Giải pháp cụ thể

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Kiểm Soát Quyền Lực Hoài Nhơn Bình Định

Để duy trì trật tự xã hội và đảm bảo lợi ích chung, quyền lực chính trị là yếu tố không thể thiếu. Tuy nhiên, quyền lực này có nguy cơ bị lạm dụng vì lợi ích cá nhân. Do đó, kiểm soát quyền lực là một yêu cầu khách quan đối với mọi thể chế chính trị. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, quản lý xã hội vì lợi ích của nhân dân. Để kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả, cần kiểm soát chặt chẽ quyền lực chính trị của Đảng thông qua công tác kiểm tra, giám sát nội bộ. Công tác này bao gồm kiểm tra chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng, cũng như việc thực hiện chúng. Vấn đề cốt lõi là thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong nội bộ.

1.1. Tầm Quan Trọng của Kiểm Soát Quyền Lực trong Đảng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, công tác kiểm tra, giám sát có vai trò đặc biệt quan trọng, được Đảng khẳng định là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò quyết định của công tác này đối với hiệu quả lãnh đạo. Theo Người, chính sách đúng đắn có thể thất bại nếu tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ và kiểm tra sơ sài. Kiểm tra, giám sát là khâu quan trọng trong công tác lãnh đạo và xây dựng Đảng, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

1.2. Thực Trạng Kiểm Tra Giám Sát tại Thị xã Hoài Nhơn

Trong những năm qua, công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của công tác này, chất lượng, hiệu quả chưa cao, sai lầm chậm được phát hiện và khắc phục. Những yếu kém này dẫn đến tệ quan liêu, tham nhũng, lạm quyền, suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Do đó, cần nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo và hiệu quả tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong cơ chế kiểm soát quyền lực.

II. Lý Luận Kiểm Soát Quyền Lực Đảng Cộng Sản Việt Nam

Quyền lực là khả năng thực hiện các chiến lược để đạt được kết quả mong muốn, tác động đến hành vi của người khác. Khi xã hội phân chia giai cấp, các giai cấp sử dụng sức mạnh của mình để tác động đến quá trình thực thi quyền lực nhà nước, dẫn đến sự xuất hiện của quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị là khả năng áp đặt ý chí để đạt được mục tiêu của chủ thể chính trị. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Namquyền lực chính trị, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng thực thi quyền lực chính trị bằng cách tác động vào Nhà nước để hiện thực hóa quyền, lợi ích và ý chí của lực lượng xã hội mà mình đại diện.

2.1. Quyền Lực Lãnh Đạo và Cầm Quyền của Đảng Cộng Sản

Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng. Trong hệ thống chính trị hiện nay, Đảng vừa có vai trò lãnh đạo, vừa có vai trò cầm quyền. Đảng thực thi hai loại quyền lực: quyền lực chính trị (lãnh đạo) và quyền lực nhà nước (cầm quyền). Quyền lực lãnh đạo dựa trên tính tiên phong, sự hấp dẫn của lý tưởng và giá trị mà Đảng theo đuổi. Đảng phải thể hiện đạo đức, văn minh, không có mục đích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

2.2. Kiểm Soát Quyền Lực của Đảng đối với Nhà Nước Xã Hội

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị. Đảng lãnh đạo bằng các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục, động viên, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Đặc trưng của thể chế chính trị Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, được Hiến pháp 2013 quy định.

III. Hoạt Động Kiểm Tra Giải Pháp Kiểm Soát Quyền Lực

Trong hệ thống kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác kiểm tra đóng vai trò then chốt. Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo quan trọng, giúp đảm bảo đường lối, chủ trương của Đảng được thực hiện đúng đắn và hiệu quả. Thông qua kiểm tra, Đảng có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai phạm, tiêu cực, góp phần giữ vững kỷ luật và sự trong sạch của bộ máy. Hoạt động kiểm tra không chỉ hướng đến việc xử lý các vi phạm đã xảy ra mà còn tập trung vào phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa.

3.1. Nội Dung và Phương Pháp Kiểm Tra của Đảng Cộng Sản

Nội dung kiểm tra của Đảng bao gồm kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác; kiểm tra việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Phương pháp kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch, dân chủ, đúng quy trình, thủ tục. Cần kết hợp kiểm tra thường xuyên với kiểm tra định kỳ, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra đột xuất.

3.2. Vai Trò của Ủy Ban Kiểm Tra trong Kiểm Soát Quyền Lực

Ủy ban Kiểm tra các cấp có vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác kiểm tra của Đảng. Ủy ban Kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) khi có dấu hiệu vi phạm; kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết tố cáo, khiếu nại về kỷ luật đảng; kiểm tra tài chính đảng. Ủy ban Kiểm tra phải hoạt động độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật và Điều lệ Đảng.

IV. Hoạt Động Giám Sát Nâng Cao Kiểm Soát Quyền Lực

Bên cạnh kiểm tra, giám sát là một công cụ quan trọng để kiểm soát quyền lực trong Đảng. Giám sát là quá trình theo dõi, đánh giá việc thực hiện quyền lực của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai phạm, tiêu cực. Giám sát giúp đảm bảo quyền lực được sử dụng đúng mục đích, phục vụ lợi ích của nhân dân. Hoạt động giám sát cần được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, có sự tham gia của nhiều chủ thể.

4.1. Các Hình Thức Giám Sát trong Đảng Cộng Sản Việt Nam

Có nhiều hình thức giám sát trong Đảng, bao gồm giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên đối với cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới; giám sát của đảng viên đối với cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên khác; giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng. Cần phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và báo chí trong công tác giám sát.

4.2. Cơ Chế Phản Hồi và Xử Lý Thông Tin Giám Sát

Để giám sát hiệu quả, cần có cơ chế phản hồi và xử lý thông tin giám sát kịp thời, minh bạch. Các thông tin phản ánh về sai phạm, tiêu cực phải được xem xét, xác minh và xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật. Cần bảo vệ người tố cáo, phản ánh thông tin trung thực, khách quan. Đồng thời, cần xử lý nghiêm những trường hợp tố cáo sai sự thật, vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.

V. Giải Pháp Kiểm Soát Quyền Lực Hoài Nhơn Bình Định

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Các giải pháp này tập trung vào nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực, hoàn thiện cơ chế và phát huy vai trò của các chủ thể liên quan. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống kiểm soát quyền lực hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh.

5.1. Nâng Cao Nhận Thức về Kiểm Soát Quyền Lực

Cần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực trong Đảng. Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn về công tác kiểm tra, giám sát, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các quy định của Đảng và pháp luật về kiểm soát quyền lực trên các phương tiện thông tin đại chúng.

5.2. Tăng Cường Năng Lực cho Cán Bộ Kiểm Tra Giám Sát

Cần xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra, giám sát. Tạo điều kiện để cán bộ kiểm tra, giám sát được học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận chính trị.

5.3. Hoàn Thiện Cơ Chế Kiểm Soát Quyền Lực

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, quy chế về kiểm soát quyền lực cho phù hợp với tình hình thực tế. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị trong công tác kiểm soát quyền lực. Tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của Đảng và Nhà nước.

VI. Kết Luận Tương Lai Kiểm Soát Quyền Lực Hoài Nhơn

Công tác kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài. Để đạt được hiệu quả cao, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của toàn xã hội. Với những giải pháp đồng bộ và quyết tâm cao, Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn sẽ xây dựng được một hệ thống kiểm soát quyền lực hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

6.1. Đánh Giá Hiệu Quả Kiểm Soát Quyền Lực Hiện Tại

Đánh giá khách quan, toàn diện hiệu quả của công tác kiểm soát quyền lực thông qua kiểm tra, giám sát tại Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn. Xác định rõ những mặt đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. Rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

6.2. Định Hướng Phát Triển Kiểm Soát Quyền Lực Tương Lai

Xác định rõ định hướng phát triển công tác kiểm soát quyền lực trong Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn trong bối cảnh mới. Tập trung vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương, 07 tiết. Chƣơng 1: Lý luận về kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong Đảng thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG ĐẢNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT 1. Lý luận về kiểm soát quyền lực trong Đảng 1. Quan niệm về quyền lực trong Đảng 1. Quyền lực và quyền lực chính trị Quyền lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.

Trong khoa học chính trị, quyền lực là phạm trù trung tâm. Có nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực, tiếp cận từ những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra những cách lý giải khác nhau về phạm trù này. Ở góc độ khái quát, có thể hiểu “quyền lực là khả năng đề ra và thực hiện được các chiến lược 9 chuyển đổi các nguồn lực để đạt được kết quả mong muốn, có tác động đến hành vi, phẩm hạnh của người khác trong quá trình phối hợp hành động chung” [21, tr. Khi xã hội phân chia giai cấp, các giai cấp, các lực lượng xã hội thường có xu hướng sử dụng sức mạnh của mình để tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.

Quyền lực chính trị xuất hiện. Quyền lực chính trị là khả năng áp đặt ý chí và triển khai các biện pháp thực thi ý chí để đạt được mục tiêu của chủ thể chính trị đối với đối tượng chịu sự kiểm soát của chủ thể. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam là quyền lực chính trị, là quyền lực của một tổ chức chính trị “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Đảng thực thi quyền lực chính trị của các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội mà mình đại diện bằng cách tác động vào Nhà nước, để thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước, hiện thực hóa quyền, lợi ích và ý chí của lực lượng xã hội mà mình đại diện.

Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là lực lượng lãnh đạo cách mạng. Đặc biệt, trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, chỉ có một đảng chính trị nên Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có vai trò lãnh đạo, vừa có vai trò cầm quyền. Đảng một lúc phải thực thi hai loại quyền lực, quyền lực chính trị (lãnh đạo) và quyền lực nhà nước (cầm quyền). Quyền lực lãnh đạo có thể không chính thức, chỉ được thừa nhận bởi nhân dân.

Đảng lãnh đạo bằng tính tiên phong, bằng sự hấp dẫn của lý tưởng và giá trị mà Đảng theo đuổi, thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương. Đảng phải thể hiện “là đạo đức, là văn minh”, là “không có mục đích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân” [29]. Quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội (với bên ngoài) Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị…; thông qua các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục, động viên, tổ chức thực hiện và Đảng phải lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước về việc thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách,… mà Đảng ban hành. Đặc trưng của thể chế chính trị Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, được Hiến pháp 2013 quy định: Đảng có quyền lực chính trị ở những quyết sách về đường lối, chủ trương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, về công tác tổ chức cán bộ hay công tác kiểm tra, giám sát… Với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị…; lãnh đạo thông qua các tổ chức, cá nhân, cụ thể là lãnh đạo công tác cán bộ, phân công các đảng viên nắm giữ các cương vị chủ chốt ngay trong bộ máy nhà nước. Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước qua các hình thức sau: Thứ nhất, thông qua các cơ quan lãnh đạo, cơ quan chức năng của Đảng trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan của bộ máy nhà nước. Thứ hai, thông qua việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kiểm soát nhà nước, tức là xây dựng đường lối, đề ra chủ trương, nghị quyết, chính sách,… để thực hiện việc kiểm soát.

Do vai trò đặc biệt của Đảng Cộng sản là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã 11 hội nên hầu như mọi cơ chế, chính sách kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng cũng đồng thời liên quan đến sự kiểm soát quyền lực chính trị trên phạm vi xã hội. Hiến pháp năm 2013 quy định: trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, Đảng phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Với tư cách là lực lượng lãnh đạo, Đảng thực hiện kiểm soát quyền lực đối với nhà nước và xã hội thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ của đảng với tư cách là đảng viên mà còn cả trong việc thực hiện pháp luật nhà nước. Đảng không chỉ giới thiệu cán bộ bầu cử, bố trí vào vị trí lãnh đạo các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội mà còn quyết định kỷ luật đảng viên trong cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội nếu vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước [28, tr.

Quyền lực trong Đảng (nội bộ) Quyền lực trong Đảng là hệ thống các cơ chế được thực hiện trong Đảng nhằm bảo đảm việc thực thi quyền lực của Đảng đúng mục đích và hiệu quả. Quyền lực trong Đảng cộng sản Việt Nam là quyền lực được lịch sử xây dựng và phát triển của dân tộc Việt Nam lựa chọn, là quyền lực được hiến định. Cơ sở của quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam là quyền lực từ đảng viên trao quyền để hình thành nên các vị trí quyền lực trong Đảng. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng có quyền lực cầm quyền, điều này thể hiện rõ trong Hiến pháp.

Điều 4, Hiến pháp năm 2013 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, như vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội mang tính pháp lý, trở thành nguyên tắc hiến định. Quyền lực của Đảng là quyền lực của lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lực của Đảng giới hạn bởi các tổ chức đảng, đảng 12 viên, phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp. “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” [27, tr.

Quyền lực chính trị của Đảng là rất lớn, vì vậy cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng. Trước hết, rất cần đến những thiết chế được xây dựng và thực thi ngay chính bản thân nội bộ Đảng. Mọi quyền lực của tổ chức đảng có thẩm quyền đều phải được quy định bằng văn bản có tính pháp lý. “Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm” [28, tr.

Quan niệm về kiểm soát quyền lực trong Đảng 1. Khái niệm kiểm soát quyền lực, kiểm soát quyền lực trong Đảng “Kiểm soát quyền lực là khả năng phát hiện, ngăn chặn những hành vi vượt quá giới hạn được ủy quyền của các chủ thể nắm quyền lực, buộc các chủ thể này phải thực hiện đúng mục đích mà chủ thể trao quyền đặt ra bằng các công cụ, thể chế hay cơ chế nhất định” [21, tr. “Kiểm soát quyền lực trong Đảng là việc các tổ chức đảng, đảng viên của Đảng sử dụng các công cụ, các quy định của thể chế hay cơ chế nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục tiêu, tôn chỉ ban đầu của Đảng” [21, tr. Đảng thực hiện cơ chế tự kiểm soát bằng các hình thức sinh hoạt đảng như tự phê bình và phê bình, kỷ luật đảng, hoạt động kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng từ chi bộ đến Trung ương theo Điều lệ Đảng.

Cơ chế kiểm soát trong Đảng được thiết lập và quy định trong Điều lệ Đảng như sau: 13 Một là, cơ chế ủy quyền,“Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo Đảng giữa hai kỳ Đại hội là Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra. Ban Chấp hành Trung ương bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Bộ Chính trị thực hiện lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Đại hội, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, báo cáo công việc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ