CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [10, tr.
Như vậy đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân (có con dấu riêng, được mở tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp công, được Nhà nước cho phép thu các loại phí (theo Nghị định thu phí và lệ phí của Chính phủ) nhằm cung cấp dịch vụ công hiệu quả nhất cho xã hội. Khi đưa ra khái niệm trên, cần lưu ý sự khác biệt giữa đơn vị sự nghiệp công lập với cơ quan hành chính nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước có chức năng quản lý nhà nước, gồm Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang bộ, UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp. Còn đơn vị sự nghiệp công lập là những cơ quan trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện hoạt động sự nghiệp công, không có chức năng quản lý nhà nước.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập - Là tổ chức hoạt động phục vụ xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận, có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và những dịch vụ nhằm duy trì hoạt động bình thường của các ngành trong xã hội. Với chức năng và nhiệm vụ như vậy nên những hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập hoàn toàn mang tính chất phục vụ nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và hoạt động của mình, đặc biệt là hoạt động tài chính không nhằm mục tiêu lợi nhuận. - Được thành lập và hoạt động trên cơ sở của pháp luật. Là đơn vị thực hiện các công việc trên cơ sở chấp hành các nhiệm vụ của pháp luật, chỉ đạo thực hiện các chủ trương kế hoạch của Nhà nước.
Các đơn vị sự nghiệp công lập trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực của Nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan quyền lực đó. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào các phương thức cung cấp dịch vụ công, và các tiêu thức khác nhau, người ta có các cách phân loại các đơn vị SNCL khác nhau. Một số phương thức phân loại đơn vị SNCL chủ yếu hiện nay như sau: - Căn cứ vào vị trí, cấp chủ quản, đơn vị sự nghiệp công lập gồm: + Đơn vị sự nghiệp công lập trung ương: như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, bệnh viện, trường học do trung ương quản lý. + Đơn vị sự nghiệp công lập địa phương: như Trung tâm đo đạc bản đồ, bệnh viện, trường học do địa phương quản lý.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, đơn vị sự nghiệp công lập gồm: + Đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề. + Đơn vị sự nghiệp y tế. 9 + Đơn vị sự nghiệp đảm bảo xã hội. + Đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể dục thể thao.
+ Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường. + Đơn vị sự nghiệp kinh tế (giao thông, thuỷ lợi .) + Đơn vị sự nghiệp khác. - Căn cứ vào mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp công lập: Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được xác định như sau: Trong đó: Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên bao gồm: phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước, thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, thu khác (nếu có), lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từ các hoạt động dịch vụ. Tổng số chi hoạt động thường xuyên theo quy định gồm: chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí.
Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định. Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp được phân loại như sau: + Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng 10 hoặc lớn hơn 100%, Nhà nước không phải dùng ngân sách để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. + Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dưới 100%, Nhà nước vẫn phải cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. + Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động.
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị sự nghiệp công lập được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động. Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN. Thủ trưởng đơn vị SNCL được chủ động bố trí, sử dụng kinh phí chi thường xuyên để thực hiện chế độ tự chủ theo các nội dung, yêu cầu công việc được giao để hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo tiết kiệm và có hiệu quả. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, thủ trưởng đơn vị được quyết định một số 11 mức chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; đối với đơn vị sự nghiệp do ngân sách bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, thủ trưởng đơn vị được quy định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ nhưng tối đa không quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Chi ngân sách nhà nước và kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước của kho bạc nhà nước 1. Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [22, tr. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương [22, tr.
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp [22, tr. Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật [22, tr. - Đặc điểm của chi NSNN: + Chi NSNN thể hiện các quan hệ tài chính - tiền tệ được hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã 12 hội của Nhà nuớc. + Chi NSNN là sự kết hợp hài hoà giữa quá trình phân phối quỹ NSNN để hình thành các quỹ tài chính của các cơ quan, đơn vị và quá trình sử dụng các quỹ tài chính này.
+ Chi NSNN là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ NSNN cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có tính không hoàn lại. Quy mô của chi NSNN phụ thuộc vào quy mô các khoản thu của NSNN và những nhiệm vụ chi mà Nhà nuớc cần phải thực hiện. + Chi NSNN gắn chặt với bộ máy quản lý nhà nước và việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận. + Chi NSNN là một quá trình liên tục, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội, việc xây dựng dự toán và quyết toán chi NSNN được thực hiện theo đúng niên độ.
Cuối năm ngân sách có số kết dư để chuyển sang năm sau, nếu có thâm hụt, phải xác định rõ nguồn bù đắp và sẽ được xử lý vào năm ngân sách tiếp theo. + Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định tổng dự toán và tổng quyết toán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi NSNN giữa các nhiệm kỳ, kể cả tổng mức chi đối với những công trình lớn, đặc biệt quan trọng của quốc gia. + Chi NSNN được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý và điều hành.