mở đầu cho quá trình khai phá thuộc địa. Từ cuối thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVIII là kỷ nguyên của những cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử nhân loại, từ châu Âu tới khắp nơi trên lục địa châu Mỹ. Ngoài những người bản xứ bị nô dịch, người châu Âu cũng mang tới châu Mỹ rất nhiều nô lệ từ châu Phi. Đây là thời kỳ mà nền kinh tế các nước thuộc địa chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp dựa trên cơ sở tận dụng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệt để ưu thế điều kiện tự nhiên và nhân công, cung cấp cho châu Âu một nguồn nông, lâm sản và nguyên liệu vô cùng to lớn.
Khi đã chinh phục được những miền đất mới, người Tây Ban Nha cũng như Bồ Đào Nha phải đối phó với rất nhiều vấn đề trong việc cai trị những vùng lãnh thổ rộng lớn, nằm xa mẫu quốc và thường xuyên có sự chống đối của cư dân bản địa. Do đó, ngay từ đầu người Tây Ban Nha đã biết vận dụng tôn giáo như một công cụ để đồng hoá, qua đó cai trị người bản xứ. Các thừa sai Công giáo len lỏi khắp nơi để cải đạo, khai hoá người bản địa và nhà thờ Công giáo dần có ảnh hưởng đối với cuộc sống của người bản xứ còn hơn cả những sắc lệnh, luật lệ mà mẫu quốc ban hành ở vùng đất mới. Nhưng thay vì thực hiện những lý tưởng cao đẹp ban đầu của giáo hội, những đòi hỏi kinh tế của phương Tây đã dẫn đến việc đàn áp, bóc lột và nô dịch hoá người Indian vô cùng tàn bạo.
Đói rét, bệnh dịch cùng sự hành hạ, ngược đãi của những kẻ thực dân đã gây nên cái chết của hàng chục triệu cư dân bản địa. Chỉ trong vòng 200 năm, dân số của người Indian từ 25 triệu người vào năm 1519 đã giảm xuống chỉ còn 1 triệu người vào năm 1700, một trong những sự suy giảm dân số thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại [9, tr. Cũng trong thời kỳ này, sự biến đổi về nhân chủng đã diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Quá trình hôn phối giữa người da trắng châu Âu với người bản xứ và cả người nô lệ da đen đã tạo nên một thế hệ người bản xứ mới.
Những người này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành các quốc gia độc lập sau này. Sau gần 3 thế kỷ dưới ách đô hộ của thực dân châu Âu, từ thế kỷ XIX các thuộc địa Nam Mỹ bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ với các cuộc cách mạng đòi độc lập. Đến năm 1830, hầu hết các quốc gia Nam Mỹ đã giành được độc lập và bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước. Nhưng đáng tiếc, nền độc lập của các quốc gia Nam Mỹ non trẻ đã nhanh chóng bị bóp nghẹt khi Hoa Kỳ tiến hành chính sách ngoại giao “hướng về phía nam” nhằm tăng cường 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ảnh hưởng của mình với khu vực Mỹ Latinh và gạt bỏ dần ảnh hưởng của các nước châu Âu đối với khu vực giàu tiềm năng này.
Ngày 2 tháng 12 năm 1823, Tổng thống Mỹ James Monroe chính thức tuyên bố chủ trương của Hoa Kỳ đối với khu vực Mỹ Latinh và khẳng định: "Lục địa châu Mỹ đã chọn và duy trì được độc lập, tương lai của nó không thể bị một cường quốc châu Âu nào đô hộ nữa" [9, tr. Chủ trương đó nêu cao cái gọi là "chống lại sự xâm nhập của tư bản châu Âu" với khẩu hiệu "Châu Mỹ của người châu Mỹ". Thực chất đây là âm mưu độc chiếm và biến Mỹ Latinh thành “sân sau” của Hoa Kỳ. Học thuyết Monroe đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt thế kỷ XIX, ngăn chặn hoặc đẩy ảnh hưởng của các nước châu Âu xuống hàng thứ yếu tại Mỹ Latinh.
Chính sách ngoại giao nước lớn cũng đã thành công phần nào trong việc áp đặt quyền lực của Hoa Kỳ đối với các nước Mỹ Latinh trong một thời gian dài. Phải đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ mới có những thay đổi đáng kể khi nước Mỹ tuyên bố muốn trở thành "láng giềng tốt" đối với các quốc gia còn lại ở châu Mỹ. Thay vì gia tăng áp lực quân sự, Hoa Kỳ đẩy mạnh xâm nhập Mỹ Latinh bằng kinh tế: Xuất khẩu tư bản, khuyến khích đầu tư trên quy mô lớn. Thông qua những khoản cho vay hoặc viện trợ có điều kiện, Hoa Kỳ đã dần lũng đoạn nền kinh tế và khống chế đời sống chính trị khu vực Mỹ Latinh.
Các nước Mỹ Latinh sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân châu Âu, trên danh nghĩa đều là những quốc gia độc lập nhưng thực chất bị phụ thuộc vào đế quốc Mỹ ở nhiều mức độ khác nhau. Chính sách “cây gậy lớn” cùng với nền "ngoại giao đồng đô la” đã giúp Hoa Kỳ biến Mỹ Latinh thành “sân sau” của mình trong nhiều thập kỷ. Ngày nay, những chuyển biến tích cực của đời sống chính trị quốc tế cùng sự lớn mạnh của các lực lượng tiến bộ trong khu vực đã khiến Hoa Kỳ không thể tiếp tục chính sách ngoại giao bá quyền, độc chiếm Nam Mỹ như trước đây. Áp lực của Hoa Kỳ đối với khu vực đã phần nào giảm sút song 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ của Hoa Kỳ với phần còn lại của Tây bán cầu không vì thế mà bớt căng thẳng.
Nước Mỹ chưa bao giờ có ý định từ bỏ ảnh hưởng của mình đối với khu vực Mỹ Latinh. Chính sách “cây gậy và củ cà rốt” vẫn tiếp tục được người Mỹ sử dụng như một thứ vũ khí hữu hiệu để khống chế và kiểm soát vùng đất rộng lớn, giàu tiềm năng này. Quá khứ ngoại thuộc cùng bàn tay can thiệp của Hoa Kỳ đã đè nặng và để lại dấu ấn sâu sắc trong toàn bộ các lĩnh vực đời sống của khu vực Mỹ Latinh. Nếu có thể khái quát về Mỹ Latinh thì người ta có thể nói đó là vùng đất của của những khát vọng tự do đang tìm cách vượt qua những trở ngại của đói nghèo, chia rẽ và bất ổn.
Tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị khu vực Mỹ Latinh 1. Tình hình kinh tế Từ khi giành được độc lập cho tới nay, hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh đều lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp kém. Mô hình Hoa Kỳ được coi là hình mẫu lý tưởng cho sự phát triển của nhiều quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, con đường phát triển tư bản chủ nghĩa chỉ giúp một số ít quốc gia đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế - xã hội (như Chile, Argentina, Brazil) còn đa số các nước Mỹ Latinh bị đẩy vào tình trạng đói nghèo, chia rẽ và tụt hậu.
Nguyên nhân cơ bản là do sự xâm nhập, lũng đoạn của các tập đoàn tư bản nước ngoài. Dựa trên ưu thế tuyệt đối về vốn và công nghệ, các công ty Âu - Mỹ đã từng bước chi phối và kiểm soát nền kinh tế của nhiều quốc gia Mỹ Latinh. Thậm chí, để có thể khai thác tối đa nguồn nguyên liệu giá rẻ từ các hầm mỏ và những vùng trồng cây công nghiệp đặc hữu của Nam Mỹ, các tập đoàn tư bản đã không ngần ngại ủng hộ cho các chế độ độc tài khét tiếng tàn bạo hay giật dây cho các cuộc đảo chính đẫm máu. Lịch sử Mỹ Latinh đã cho thấy, bất cứ chính quyền dân cử nào thực thi những chính sách tiến bộ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chăm lo tới lợi ích của người dân nhưng đe dọa 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi ích của các tập đoàn tư bản nước ngoài thì ngay lập tức, các thế lực tư bản nước ngoài sẽ tiến hành tác động về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự để lật đổ chính quyền dân chủ hợp hiến, thiết lập một chính phủ mới “biết vâng lời” hơn.
Vốn, công nghệ sẽ tiếp tục được đổ vào các ngành khai mỏ cũng như các vùng chuyên canh cây công nghiệp nhằm biến Mỹ Latinh thành nguồn cung cấp nguyên liệu thô và là thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước phát triển. Các doanh nghiệp nội địa sẽ không có nhiều lựa chọn: hoặc phá sản hoặc lệ thuộc vào các công ty tư bản nước ngoài. Chủ quyền quốc gia không được bảo đảm, người dân bản địa ngày càng bị bần cùng hóa, trở thành kẻ làm thuê ngay trên chính vùng đất của tổ tiên mình. Các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia dường như mới là chủ nhân thực sự trên vùng đất giàu có tài nguyên này.
Những hậu quả kinh tế - xã hội hết sức nặng nề của “chủ nghĩa tự do mới” đã khiến nền kinh tế của nhiều quốc gia Mỹ Latinh đến nay vẫn đang phải đối mặt với những vấn đề lớn và cần những cải cách quan trọng mang tính hệ thống. Chất lượng cơ sở hạ tầng yếu kém, khoa học kỹ thuật lạc hậu, phân phối thu nhập không đều, chất lượng dịch vụ công thấp, tham nhũng, xung đột xã hội và tình trạng quan liêu của các chính phủ vẫn tồn tại và đe dọa tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhiều quốc gia Nam Mỹ đang trở thành những con nợ khổng lồ, nợ công đạt tới mức kỷ lục trong khi chi tiêu công tiếp tục tăng lên. Các loại thuế chiếm một phần lớn thu nhập quốc gia là một gánh nặng với mọi tầng lớp xã hội, làm giảm các cơ hội đầu tư cũng như khả năng giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội [17, tr.
Thực trạng kinh tế ảm đạm đã phần nào phản ánh bức tranh xã hội không mấy tươi sáng của khu vực Mỹ Latinh. Những khó khăn kinh tế là nguyên nhân của tình trạng phân hóa, chia rẽ sâu sắc của của các giai tầng, các đảng phái và lực lượng chính trị trong khu vực. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình xã hội Là một khu vực giàu tiềm năng với nhiều nền kinh tế mới nổi nhưng hiện nay hầu hết các nước Mỹ Latinh đều đang phải đối phó với những vấn đề xã hội hết sức phức tạp.
Khoảng cách kinh tế giữa người giàu và người nghèo ở các quốc gia Nam Mỹ được cho là cao nhất trong các châu lục. Ở Venezuela, Paraguay, Bolivia và nhiều quốc gia Nam Mỹ khác, 20% số người giàu nắm giữ 60% tài sản quốc gia, trong khi 60% số người nghèo chỉ chiếm chưa đến 5% tài sản quốc gia [18, tr.