phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Cơ sở lý luận về công nghệ, đổi mới công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công cụ thuế, thuế suất, vai trò của các công cụ thuế và ảnh hƣởng đối với hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng việc áp dụng thuế suất để đổi mới công nghệ trong các DNNVV và trong lĩnh vực chế biến dừa ở tỉnh Bến Tre. - Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre. - Thực trạng hoạt động và phát triển của các DNNVV tại tỉnh Bến Tre.
- Thực trạng công nghệ và đổi mới công nghệ trong các DNNVV và trong lĩnh vực chế biến dừa tỉnh Bến Tre. - Thực trạng sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích ĐMCN cho các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre. Chƣơng 3: Giải pháp sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích ĐMCN trong các DNNVV, cụ thể trong lĩnh vực chế biến dừa tại tỉnh Bến Tre. - Mục tiêu của các giải pháp - Phân loại các nhóm DNNVV, cụ thể các DNCBD tỉnh Bến Tre - Đề xuất các giải pháp sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích ĐMCN trong các DNCBD tỉnh Bến Tre: KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. Công nghệ và đổi mới công nghệ 1. Khái niệm về công nghệ Trong lịch sử xã hội loài ngƣời, khái niệm Công nghệ đƣợc hình thành từ khá lâu và đƣợc sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Có thể nêu một số khái niệm điển hình sau đây: - Theo quan niệm cổ điển nhất, Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất và / hoặc thông tin.Jones, năm 1970 cho rằng, Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực đƣợc chuyển thành hàng hoá.Root, Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đƣợc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới.Baranson, năm 1976 đƣa ra: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/ và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.Dunning, năm 1982, Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức đƣợc áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trƣờng cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới.Strunk, năm 1986 cho rằng, Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phƣơng pháp.
Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con ngƣời không phải là hàng hoá. - Theo Nawar Sharif, năm 1986 đã đƣa ra một định nghĩa khá khái quát về công nghệ. Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin, về phƣơng tiện và phƣơng pháp chế biến vật chất và/ hoặc thông tin. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con ngƣời và phần thiết chế tổ chức.
Đây 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình Dƣơng (APCTT). - Ông Graham, năm 1988 đƣa ra định nghĩa: Công nghệ là kiến thức không sờ mó đƣợc và không phân chia đƣợc, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ. Một số tổ chức quốc tế đã đƣa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau. - Tổ chức PRODEC năm 1982 cho rằng, Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ.
- Trƣớc đó, năm 1972, tổ chức UNCTAD cho rằng, Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất. Nó đƣợc mua bán trên thị trƣờng nhƣ một hàng hoá. - Ngân hàng thế giới năm 1985 đƣa ra định nghĩa: Công nghệ là phƣơng pháp chuyển hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phƣơng pháp. + Phƣơng tiện, công cụ sử dụng phƣơng pháp thực hiện việc chuyển hoá.
+ Sự hiểu biết phƣơng pháp hoạt động nhƣ thế nào và tại sao? - Tổ chức OECD, gồm các nƣớc phát triển châu Âu, Nhật bản, Mỹ và Canađa lại có một định nghĩa chung: Công nghệ đƣợc hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con ngƣời thì sẽ đạt đƣợc một kết quả định trƣớc (và đôi khi đƣợc kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định. - Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) thì Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp. - Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á - Thái bình dƣơng (ESCAP), Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu thành thông tin. Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý.
Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đƣa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ nhƣ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sau: Công nghệ có thể đƣợc hiểu nhƣ mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phƣơng pháp (gọi là phần mềm) đƣợc lƣu giữ dƣới các dạng khác nhau (con ngƣời, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tƣ liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) đƣợc áp dụng vào môi trƣờng thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ. - Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đƣa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. - Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006 (số 80/2006/QH ngày 29/11/2006) và Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi năm 2013 (số 29/2013/QH ngày 18/6/2013 của Quốc hội): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này.
Đặc điểm của công nghệ Bất kỳ một công nghệ nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản là: - Công nghệ trƣớc hết là khoa học “Làm” tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu” (Vũ Cao Đàm). - Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm. - Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm. Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời – Tăng trƣởng - Thịnh vƣợng – Bảo hoà - Tiêu vong.
- Sản phẩm của công nghệ đƣợc xác định trƣớc theo thiết kế. - Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã đƣợc nhà chế tạo chuẩn hoá và đƣợc ngƣời sản xuất làm chủ. Đổi mới công nghệ 1. Khái niệm về đổi mới công nghệ Chúng ta có thể hiểu Đổi mới (Innovation) là việc tạo ra và phát triển một ý tƣởng nào đó và đƣa nó vào áp dụng trong cuộc sống.
Trong khoa học có thể nói đổi mới là quá trình thƣơng mại hoá thành công một sáng chế. Đổi mới là 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quá trình tìm kiếm, tiếp thu và sử dụng tri thức nên không thể là một việc chốc lát. Thành công không chỉ đƣợc đo bằng một đổi mới thành công mà bằng cả một chuỗi các đổi mới. ĐMCN chính là quá trình thƣơng mại hoá thành công một sáng chế.
Sáng chế hay sáng tạo chính là việc tạo ra ý tƣởng mới, còn đổi mới chính là dùng những ý tƣởng này để tạo ra lợi ích. Trong phạm vi doanh nghiệp, ĐMCN có thể là đổi mới quy trình sản xuất hoặc đổi mới sản phẩm. Quản lý công nghệ và quản lý quá trình ĐMCN là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác quản trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể của quá trình học hỏi và ĐMCN.
Qua khảo sát thực tế cho thấy các DNNVV ở Bến Tre thƣờng hiểu ĐMCN là quá trình thay thế, bổ sung, hoàn thiện công nghệ cũ, lạc hậu thành công nghệ mới tiên tiến hơn, đồng bộ hơn. Đổi mới làm phát sinh nhu cầu công nghệ ở nhiều dạng khác nhau. Vai trò của hoạt động đổi mới công nghệ ĐMCN có thể ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế ở cấp độ doanh nghiệp, nơi tạo ra ĐMCN và có ảnh hƣởng đến toàn bộ nền kinh tế. Công nghệ đƣợc coi là nhân tố quan trọng tạo ra khả năng cạnh tranh của một quốc gia.
Nếu không có phát triển công nghệ, một quốc gia có thể đạt đƣợc tăng trƣởng cao chẳng hạn nhƣ thông qua mức sống cao, tích lũy tƣ bản lớn nhƣng họ không thể có tăng trƣởng lâu dài và bền vững. Những ảnh hƣởng của công nghệ đến tăng trƣởng kinh tế tùy thuộc vào sự phồn thịnh về kinh tế của từng quốc gia. Vào giai đoạn đầu, khả năng phát triển kinh tế thƣờng phụ thuộc vào chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài. Các quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao hơn sẽ chuyển đến giai đoạn phổ biến công nghệ.
Với các quốc gia phát triển cao hơn nữa, bản thân họ sẽ trở thành những ngƣời sáng tạo công nghệ mới để duy trì tăng trƣởng kinh tế cao. Theo tác giả Porter (1990), năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể trải qua 3 giai đoạn phát triển thông qua hình thái phát triển của các ngành công nghiệp. Các giai đoạn nhƣ sau: 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.