phần mở đầu và kết luận, đề tài có kết cấu gồm 3 chương : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công nghệ hƣớng thân thiện với môi trƣờng ở các DNNVV tại Việt Nam I. Một số vấn đề lý luận và khái niệm có liên quan II. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường III.Sự cần thiết đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường IV.Những áp lực thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho bảo vệ môi trường Chƣơng 2: Thực trạng đầu tƣ cho đổi mới công nghệ hƣớng thân thiện với môi trƣờng tại doanh nghiệp nhỏ và vừa I. Doanh nghiệp nhỏ và vừa với vấn đề ô nhiễm môi trường II.Thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường III.
Tổng quan các cơ chế, chính sách hiện hành nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường TIEU LUAN MOI download13: skknchat@gmail. Tình hình thực thi các cơ chế chính sách hiện hành thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường Chƣơng 3. Kiến nghị giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tƣ cho đổi mới công nghệ hƣớng thân thiện với môi trƣờng tại Việt Nam I. Cơ hội và thách thức đối với việc hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường thời gian tới II.
Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện cơ chế chính sách trong thời gian tới III. Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường Chƣơng 4. Kết luận và khuyến nghị TIEU LUAN MOI download14: skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ HƢỚNG THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƢỜNG Ở CÁC DNNVV TẠI VIỆT NAM 1.Một số vấn đề lý luận và khái niệm có liên quan 1.Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nhìn chung, trên thế giới việc xác định một DN là DNNVV chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. - Tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ bản của các DNNVV như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.
- Tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như quy mô, số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của DN. Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô DN. Ở Việt Nam, theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Tuy nhiên việc dùng hai tiêu chí lao động bình quân hằng năm và vốn đăng ký kinh doanh còn quá chung chung, mới thể hiện được quy mô đầu vào mà chưa phản ánh được kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đều có chung một số đặc điểm là thiếu vốn, thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn và khả năng nắm bắt thông tin thị trường trong và ngoài nước. TIEU LUAN MOI download15: skknchat@gmail. Phân loại cụ thể của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam theo các nhóm ngành. Quy mô DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao động Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao Khu vực nguồn vốn vốn động 1.Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên lâm nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến 200 người và thuỷ sản 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người 2.Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và xuống trở xuống người đến đồng đến 200 người xây dựng 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người 3.Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ 10 người từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống đến 50 người đồng đến 50 người đến vụ tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) 1.
Công nghệ Định nghĩa về công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: “đó là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dựng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ đó bao gồm: - Công nghệ là một quy trình sản xuất nhằm biến đổi các sản phẩm ở đầu ra sẽ có giá trị cao hơn giá trị sản phẩm của đầu vào. Nó bao gồm cả những thiết bị kỹ thuật trong quy trình (Technoware).
- Công nghệ là một sản phẩm, nó có mối quan hệ chặt chẽ với con người (Humanware), và cơ cấu tổ chức (Orgaware). - Công nghệ không đơn thuần chỉ là các vật thể mà đặc trưng là kiến TIEU LUAN MOI download16: skknchat@gmail. Việc sử dụng công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó (Inforware). Hoặc có thể diễn đạt theo cách khác, đó là công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh.); - Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.); - Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp…được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu.); - Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…).
Tại Việt Nam trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) đưa ra khái niệm công nghệ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Trong Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ được hiểu là: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Trong phạm vi Luận văn, khái niệm công nghệ được hiểu: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn.
- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật chất như các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị - Technoware (T). Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware). TIEU LUAN MOI download17: skknchat@gmail.com - Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo…mà các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn.
Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của công nghệ - Humanware (H). - Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa như: các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ kỹ thuật, bí quyết.Dạng thức này của công nghệ được gọi là Phần thông tin - Inforware (I). - Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết…Đây là Phần tổ chức của công nghệ - Organware (O). Công nghệ thân thiện với môi trường: - Theo Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (United nations environment programme - UNEP) định nghĩa công nghệ thân thiện với môi trường là: “sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quy trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm rủi ro đối với con người và môi trường.” - Công nghệ thân thiện môi trường đã được định nghĩa trong Chương trình nghị sự 21 như sau: “Công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ bảo vệ môi trường, ít gây ô nhiễm hơn, sử dụng mọi nguồn tài nguyên theo hướng bền vững hơn, tái chế được nhiều sản phẩm phế thải và xử lý rác thải dư thừa một cách hợp lý hơn so với những công nghệ mà nó thay thế ”.
- Còn theo tôi, tác giả luận văn thì: Công nghệ thân thiện với môi trường là quy trình công nghệ hoặc giải pháp công nghệ không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát thải ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường. Công nghệ thân thiện môi trường trong bối cảnh ô nhiễm là công nghệ TIEU LUAN MOI download18: skknchat@gmail.com quy trình và sản phẩm, tạo ra ít hoặc thậm chí không tạo ra chất thải để ngăn ngừa ô nhiễm. Nó cũng bao gồm cả các công nghệ “đầu cuối” để xử lý các vấn đề ô nhiễm mà nó làm phát sinh ra. Các công nghệ thân thiện môi trường không phải là công nghệ đơn lẻ mà là toàn bộ hệ thống bao gồm các bí quyết, hàng hóa và dịch vụ, thiết bị và các quy trình tổ chức và quản lý nhưng phải phù hợp với những ưu tiên về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường của một quốc gia.
Lợi ích từ việc sử dụng công nghệ thân với môi trường Mục tiêu của sản xuất sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Do đó việc sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong quy trình sản xuất sẽ: Giảm tiêu thụ nguyên liệu và năng lương trong quá trình sản xuất ra một đơn vị sản phẩm; Loại trừ càng nhiều càng tốt việc sử dụng các hoá chất, độc và nguy hại; Giảm tại nguồn về lương và độc tính của các loại khí thải, chất thải do sản xuất gây ra và đưa vào môi trường.