CHƯƠNG I: CUỘC ĐỜI KHỔNG TỬ 1.1 Xuất thân Có rất nhiều tư liệu nghiên cứu về tiểu sử của Khổng Tử. Sau đây là vài nét chính về cuộc đời và thân thế của ông. Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 âm lịch (tức ngày 28 tháng 9 năm 551 tr.CN), đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Châu, tương ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ, bây giờ là tỉnh Sơn Đông nước Trung Hoa. Ông mất ngày 11 tháng 2 âm lịch (tức ngày 11 tháng 4 năm 479 tr.
Ông được gọi là Khổng Tử là vì ông họ Khổng, còn “Tử” là cách gọi tôn kính người con trai đã trưởng thành thời cổ đại. Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc con trai trưởng thành, có một vị trí xã hội nhất định đều được gọi là “Tử”, hơn nữa họ cũng hi vọng người khác gọi mình là “Tử”, vì “Tử” còn là một loại tước vị dùng để chỉ “Tử” trong “công hầu bá tử nam”. Nhưng người thực sự được người khác gọi là “Tử” thường chỉ có hai loại: một là những người có uy tín tương đối cao trong xã hội như “giáo viên”; hai là những người dòng dõi quý tộc có phẩm chất đạo đức tốt. Khổng Tử và Lão Tử thuộc loại người thứ nhất.
Hơn nữa Khổng Tử còn là một nhà tư tưởng, nhà chính trị và là một nhà giáo dục vĩ đại trong lịch sử, là người đã sáng lập ra học phái Nho gia. Theo truyền thuyết, tổ tiên của Khổng Tử vốn là hậu duệ Ân Thương. Sau khi nhà Chu diệt nhà Ân, Chu Thành Vương phong cho người anh của Thương Trụ vương là Vi Tử Khởi đất Tống, kiến đô ở Thương Khâu (thuộc Thương Khâu, tỉnh Hà Nam ngày nay). Sau khi Vi Tử Khởi chết, người em trai là Vi Trọng kế vị.
Vi Trọng chính là tổ tiên của Khổng Tử. Cháu đời thứ tư của Vi Trọng là Phất Phụ Hà, cũng chính là ông tổ thứ mười một của Khổng Tử, lẽ ra kế vị làm Tống công thì lại -5- nhường ngôi cho người em trai. Từ đó về sau, hậu duệ của Phất Phụ Hà không kế thừa Vương vị nữa mà được phong làm Khanh. Từ đời thứ năm sau Phất Phụ Hà truyền đến ông tổ thứ sáu của Khổng Tử là Khổng Phụ Gia.
Từ đó con cháu đời sau lấy họ Khổng, đó cũng là cội nguồn họ Khổng. Khổng Phụ Gia truyền được ba đời thì đến Khổng Phòng Thúc, là tằng tổ của Khổng Tử, Khổng Phòng Thúc lánh nội loạn ở nước Tống dời đến định cư ở nước Lỗ. Cha của Khổng Tử là Thúc Lương Ngột làm quan võ ở nước Lỗ, từng đảm nhiệm chức đại phu Trâu ấp nên được gọi là “Trâu Thúc Ngột”. Thúc Lương Ngột lấy người vợ đầu là Thi Thị, sinh được chín người con gái nhưng không có người con trai nào.
Sau đó người vợ lẽ của ông sinh được một con trai nhưng bị què một chân, tên là Mạnh Bì, tự là Bá Ni. Còn về sự ra đời của Khổng Tử, đó là cả một câu chuyện. Năm Thúc Thương Ngột 70 tuổi, sợ không có người kế tự, mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có năm người con gái đều chưa gả chồng, có ý chê Thúc Lương Ngột quá già mới bảo với các con gái rằng: “Có ai trong các con thuận kết duyên với đại phu Trâu ấp đó không?”.
Bốn người con gái lớn đều làm thinh, chỉ có người con gái út là NhanTrưng Tại đứng dậy thưa rằng: “Phép làm con gái, khi còn ở nhà thì cha đặt đâu con ngồi đó, cần gì cha phải hỏi han chi thêm cho nhọc”. Thế là Nhan Trưng Tại kết duyên cùng Thúc Thương Ngột. Theo truyền thuyết, Khổng Tử khi sinh ra trên đầu gồ giữa lõm và cha mẹ Khổng Tử lại đi cầu tự ở núi Ni Khâu mà mang thai Khổng Tử nên họ đặt tên cho ông là Khâu, tự là Trọng Ni.2 Những nét chính trong cuộc đời Khổng Tử Thường những người nổi tiếng, những anh hùng xuất chúng hay những người có học thức tuyệt vời đều có tuổi thơ không mấy hạnh phúc mà phải lao đao lận đận. Khổng Tử cũng vậy, năm ông lên ba thì cha ông là Thúc Thương Ngột bị bệnh qua đời.
Từ đó gia đình ông trở nên nghèo khó chỉ nhờ một mình mẹ tảo tần nuôi dưỡng. -6- Lúc nhỏ Khổng Tử đã thông minh hiếu học. Thuở nhỏ đã rất thích lễ nghi. Ông thường đến đền thờ tổ ở Khúc Phụ (kinh đô của nước Lỗ) để quan sát các nghi thức ở đây.
Khi trở về với chúng bạn, ông thường bày ra các trò chơi tế lễ bắt chước các nghi lễ cúng tế của người lớn mà mình là người chủ tọa. Đến khi được vào trường học ông chuyên cần hơn mọi chúng bạn. Năm mười một tuổi ông từng học lễ với Lỗ Thái sư. Khác với chúng bạn lúc niên thiếu ham chơi, Khổng Tử là một người trầm tĩnh, cần cù, say mê học tập, lấy học làm niềm vui.
Trong cuốn Luận ngữ - Vi chính có câu:“子曰:吾十有五而志於学”. Âm đọc, Tử viết: ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học. Nghĩa là lúc mười lăm tuổi ông đã tu chí học tập rồi. Năm Khổng Tử mười bảy tuổi thì mẹ ông mất.
Ông an táng mẹ chung phần mộ với cha. Năm mười chín tuổi ông cưới Kỳ Quan làm vợ. Đến năm hai mươi tuổi vợ ông sinh được đứa con trai đầu lòng. Tương truyền đúng lúc ấy vua Lỗ Chiêu Công tặng cho Khổng Tử một con cá “lý ngư” thế là ông đặt tên con là Khổng Lý, tự là Bá Ngư (tức con cá đứng đầu trong các loài cá).
Về sau, Bá Ngư chết lúc 50 tuổi, chết trước Đức Khổng Tử. Con của Bá Ngư tên là Khổng Cấp, tự là Tử Tư, sau theo học với Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung. Sau này, Khổng Tử còn có đứa con gái và được gả cho môn đệ của ông là Công Dã Tràng. Trong cuốn Luận ngữ - Công Dã Tràng Khổng Tử có nói:“可妻也。虽在缧绁之中,非其罪也”.
Âm đọc: Khả thế dã. Tuy lại luy tiết chi trung, phi kì tội dã. (Dịch nghĩa: có thể gả con gái cho trò ấy. Tuy trò ấy bị tù nhưng đó không phải là tội của nó).
Khoảng năm Khổng Tử hai mươi mốt tuổi thì ông làm quan chức “ủy lại” (một chức quan nhỏ trông coi việc sổ sách). Sau đó sang làm “thừa điền” (chức quan nhỏ trông coi gia súc). Đến khoảng ba mươi tuổi thì ông bắt đầu mở trường tư, thu nhận môn sinh. Năm ông năm mươi mốt tuổi lại làm chức Đại tư khấu ở nước lỗ.
Năm năm mươi lăm tuổi bắt đầu chu du sang các nước như Vệ, Trần, Tống, Trịnh. Những năm về già ông về lại nước Lỗ, làm quân sư cho vua, tiếp tục giảng dạy và chỉnh lý Kinh Thi. Năm 483 trước Công Nguyên, người con trai duy nhất của ông lâm bệnh rồi qua đời. Năm 481 trước Công Nguyên, người học trò yêu của ông -7- là Nhan Hồi cũng qua đời.
Năm 480 trước Công Nguyên, Tử Lộ bị giết trong cuộc nội chiến nước Vệ. Năm 479 trước Công Nguyên, Khổng Tử qua đời, hưởng thọ bảy mươi ba tuổi. Ông được an táng bên bờ sông Tứ Thủy ở Khúc Phụ. Các học trò của ông đều than khóc, thương tiếc và ở bên cạnh mộ ông để túc trực, có người túc trực hương khói đến sáu năm.
Trong thời gian để tang thầy, họ nhớ và ghi chép lại những lời nói, việc làm của Khổng Tử để biên soạn thành tập sách Luận ngữ, lưu truyền cho đến đời nay .2 Sự nghiệp Khổng Tử là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại nhất thời cổ đại Trung Quốc, ông là người sáng lập ra học phái Nho gia và là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất trên thế giới. Cuộc đời của ông gắn liền với những quan điểm về chính trị và giáo dục.1 Sự nghiệp chính trị Từ năm hai mươi tuổi Khổng Tử đã muốn đi vào con đường quan trường, cho nên ông rất quan tâm đến những việc thiên hạ đại sự, thường xuyên suy nghĩ về những vần đề chính trị quốc gia, cũng thường xuyên đưa ra một số kiến giải của mình. Mặc dù chỉ ở độ tuổi hai mươi nhưng ông đã nắm được nhiều tri thức văn hóa, được mọi người ca ngợi là “bác học hiếu lễ”. Lúc này ông đã từng làm “tướng lễ” (giúp việc cúng tế lễ nghi).
Người làm nghề này đều phải có tri thức về văn hóa lễ nhạc nhất định, chuyên giúp việc cúng tế cho các gia đình quý tộc trong các hôn tang tế sự. Kế đó Khổng Tử được cử làm “ủy lại”, một chức quan nhỏ trông coi việc sổ sách (hay gọi là nhân viên quản lí kho). Sau đó sang làm “thừa điền” (trông coi gia súc), nổi tiếng là thông minh liêm khiết. Điều này được chứng minh qua câu nói của Khổng Tử:“吾少也贱,故多能鄙事。”.
Âm đọc: Ngô thiếu dã tiện, cố đa năng bỉ sự, dịch nghĩa là: ta hồi nhỏ nghèo khó nên học được nhiều nghề thấp hèn, (Luận ngữ, Tử Hãn, IX, 6). -8- Đến năm 30 tuổi, Khổng Tử đã ít nhiều có danh tiếng. Khi Tề Cảnh Công cùng đại phu Án Anh đi chơi ở nước Lỗ có triệu kiến Khổng Tử và cùng bàn luận về chuyện Tần Mục Công. Khổng Tử trả lời hợp ý Tề Cảnh Công thế là từ đó được lòng vua Tề.
Năm 517 trước công nguyên, Khổng Tử 35 tuổi, nước Lỗ xảy ra nội loạn. Khổng Tử rời nước Lỗ đến nước Tề, ở đây ông được Tề Cảnh Công trọng dụng và hậu đãi, thậm chí vua Tề còn từng chuẩn bị tặng ruộng đất cho Khổng Tử nhưng bị Án Anh can ngăn. Ở nước Tề được vài năm thì Khổng Tử bị những triều thần ở nước Tề đoan tính hãm hại, ông biết được chuyện này liền cầu cứu Tề Cảnh Công. Tề Cảnh Công muốn trọng dụng Khổng Tử nhưng do triều thần phản đối nên lại thôi, ông nói với Khổng Tử rằng:“吾老矣,弗能用也。”.
Âm đọc: Ngô lão hĩ bất năng dụng dã. Dịch nghĩa là: Ta già rồi không dùng được Khổng Tử nữa. Thế là Khổng Tử đành bỏ về nước Lỗ. Đương thời nước Lỗ cũng đứng trước sự rối loạn về chính trị, quyền lực thực tế đều nằm trong tay bọn triều thần.
Do đó mặc dù Khổng Tử có hai lần cơ hội được tham chính nhưng ông đều từ bỏ mà chuyên tâm vào việc chỉnh lý nghiên cứu Kinh Thi, đồng thời mở trường dạy học thu nhận học trò, nỗ lực phát triển sự nghiệp giáo dục. Năm Khổng Tử năm mươi mốt tuổi, ông được phong làm Trung Đô ấp tể, (Trung Đô là ấp ở Sơn Đông ngày nay) nắm giữ công việc hành chính của một vùng đất ở nước Lỗ.