Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam với đề tài "Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII" (bảo vệ năm 2019) tập trung khảo cứu toàn diện hệ thống giáo dục và chế độ thi cử Nho học tại Đại Việt trong giai đoạn biến động chính trị đặc thù của chế độ phân liệt Nam - Bắc triều và Đàng Ngoài - Đàng Trong.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định thế kỷ XVII và XVIII là thời kỳ lịch sử đặc biệt với tình trạng cát cứ giữa triều đình vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, bên cạnh sự tồn tại của nhà Mạc tại Cao Bằng đến năm 1677. Trong bức tranh chính trị - xã hội phức tạp đó, giáo dục và khoa cử Nho học vừa phản ánh nét đặc thù văn hóa của từng vùng miền, vừa đóng góp vào diện mạo văn hóa chung của quốc gia Đại Việt. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử thời kỳ này, song mảng giáo dục và khoa cử Nho học phần lớn chỉ được đề cập khái quát như một phần nhỏ trong các khảo cứu tiến trình lịch sử chế độ quân chủ, hoặc tiếp cận riêng lẻ từng vùng. Đặc biệt, giáo dục và khoa cử Nho học thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong chưa được quan tâm tương xứng, tạo nên một khoảng trống tư liệu và học thuật đáng kể. Đồng thời, việc mô tả tính kế thừa, tiếp nối truyền thống giáo dục và khoa bảng của các gia đình, dòng họ tại làng xã qua tiến trình lịch sử hai thế kỷ này vẫn cần một công trình khảo cứu chuyên biệt, có hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, luận án phân tích thực trạng tổ chức ở cả hai miền, từ đó chỉ ra những đóng góp của nền giáo dục và khoa cử Nho học đối với sự phát triển của quốc gia Đại Việt trong hai thế kỷ XVII - XVIII.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích khái quát bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII tác động đến chính sách, tình hình giáo dục và khoa cử thời kỳ này.
- Trình bày khái quát mục tiêu của giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII. Tìm hiểu về chính sách giáo dục cũng như làm rõ tình hình tổ chức giáo dục của thời kỳ này thông qua việc lựa chọn những sự kiện lịch sử tiêu biểu về tổ chức trường lớp (gồm cấp trung ương và địa phương), chương trình học tập, chế độ khảo thí của cả vùng Đàng Ngoài, Đàng Trong, qua đó làm rõ sự kế thừa, nét riêng biệt về giáo dục giữa hai vùng.
- Trình bày, phân tích tình hình khoa cử Nho học của triều Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong thông qua việc tìm hiểu về thể lệ thi cử, quá trình tổ chức các khoa thi cụ thể của hai chính quyền. Từ đó góp phần làm rõ đặc điểm khoa cử Nho học của mỗi vùng miền.
- Phân tích những thành tựu, hạn chế của giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt trong hai thế kỷ XVII, XVIII, chủ yếu là thành tựu, để qua đó thấy được vai trò và ảnh hưởng của tầng lớp trí thức Nho học được giáo dục, tuyển chọn qua khoa cử đối với sự phát triển xã hội trên nhiều khía cạnh, nhất là trong lĩnh vực chính trị, văn hóa.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giáo dục và khoa cử Nho học, thực trạng và đóng góp của nền giáo dục, khoa cử này đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu vùng Đàng Ngoài (từ Bắc sông Gianh trở ra thuộc quyền quản lý của chính quyền Lê - Trịnh, không khảo cứu vùng đất Cao Bằng của nhà Mạc do hạn chế tư liệu) và vùng Đàng Trong (từ Nam sông Gianh đến Hà Tiên dưới thời các chúa Nguyễn, giới hạn đến năm 1777 đời chúa Nguyễn Phúc Thuần; không khảo sát thời kỳ Tây Sơn và chúa Nguyễn Ánh tại Gia Định).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thế kỷ XVII và XVIII. Ở Đàng Ngoài, phạm vi được điều chỉnh từ năm 1592 (khi họ Trịnh đánh đổ nhà Mạc, đón vua Lê về Thăng Long) đến năm 1788 (khi triều Lê sụp đổ). Ở Đàng Trong, mốc thời gian giới hạn từ thế kỷ XVII đến năm 1777.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động giáo dục và khoa cử Nho học chính thống của cư dân người Việt (người Kinh) tại các hệ thống trường công của Nhà nước, trường lớp của các danh sĩ và trường tư gia; không khảo sát việc học chữ Nho tại chùa chiền hoặc việc học tập của cư dân người Chăm, người Khơme.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án dựa trên hệ thống tư liệu Hán Nôm và tài liệu lịch sử đa dạng, bao gồm:
- Nguồn chính sử triều đình: Các bộ quốc sử do chính quyền Lê - Trịnh và triều Nguyễn biên soạn, bao gồm Đại Việt sử ký toàn thư (bản khắc Chính Hòa năm 1697 do Lê Hy chủ biên; Bản kỷ tục biên 1676 - 1740 do nhóm Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá biên tập dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Hoãn, Vũ Miên, Lê Quý Đôn; Đại Việt sử ký tục biên 1676 - 1789); Khâm định Việt sử thông giám cương mục; Đại Nam thực lục (đặc biệt là 13 quyển phần Tiền biên chép về thời chúa Nguyễn 1558 - 1777); Đại Nam liệt truyện (phần Tiền biên gồm 6 quyển chép về tiểu sử công thần, danh thần, xử sĩ thời chúa Nguyễn); Lê triều chiếu lệnh thiện chính thư; Lê triều quan chế; Đại Nam nhất thống chí.
- Thư tịch Đăng khoa lục và chuyên khảo trung đại: Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (do Vũ Miên, Nguyễn Hoàn, Phan Trọng Phiên, Uông Sĩ Lăng biên soạn); Từ Liêm huyện đăng khoa chí (Bùi Xuân Nghi); Lịch đại danh hiền phổ; Thu tỉ đề danh ký; Phượng Dực đăng khoa lục; Ngọc Than đăng khoa lục. Các tác phẩm biên khảo cá nhân như Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Lịch triều hiến chương loại chí (quyển 27 "Khoa mục chí") của Phan Huy Chú; Ô châu cận lục của Dương Văn An; Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Khoa Chiêm; Thiên Nam liệt truyện Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị; Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch; Hải Dương phong vật chí của Trần Công Hiến và Trần Huy Phác; Nam Hà tiệp lục của Lê Đản; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng; Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ; Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng; Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục.
- Văn bia, gia phả và công trình khảo cứu khoa bảng: 82 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, văn bia khuyến học tại các làng xã; các công trình tra cứu khoa bảng như Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919) của nhóm Ngô Đức Thọ; Khoa cử Việt Nam Hương cống triều Lê và Khoa cử Việt Nam Sinh đồ triều Lê thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn (Nguyễn Thúy Nga chủ biên, 2019); các công trình nghiên cứu khoa bảng địa phương ở Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Nội, Nam Bộ.
- Nguồn tư liệu nước ngoài: Du ký, ghi chép của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây như Alexandre de Rhodes (Histoire du royaume de Tunquin, 1651; Divers voyages et missions); Jean-Baptiste Tavernier (Relation nouvelle et singulière du Royaume de Tunquin); Samuel Baron (A Description of the Kingdom of Tonqueen, 1685 - 1686); William Dampier (Voyages and Discoveries, 1688); Geerts (Journal de voyage du yacht hollandais Grol du Japon au Tonkin 1637); Christophoro Borri (Xứ Đàng Trong năm 1621); Jean Koffler (Description historique de la Cochinchine, 1755); J. Barrow (A voyage to Cochinchina in the years 1792 - 1793); Charles (Histoire moderne du pays d’Annam); cùng các ghi chép của tác giả Trung Hoa như Chu Thuấn Thủy (An Nam cung dịch kỷ sự), Thích Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự, 1695).
Về tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các hướng nghiên cứu trước đây:
- Nghiên cứu nửa đầu thế kỷ XX: Khảo cứu bước đầu trên các tạp chí Nam Phong, Thanh Nghị, Tri Tân của Dương Bá Trạc, Hoa Bằng, Ngô Tất Tố; chuyên luận Lược khảo về khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến Mậu Ngọ 1918 (1941) của Trần Văn Giáp.
- Nghiên cứu tổng quan lịch sử giáo dục: Vũ Ngọc Khánh (Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945, 1985); bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học (2013, đặc biệt là tập 4 về thế kỷ XVII - XVIII).
- Các chuyên khảo và bài viết từ thập niên 1990: Nghiên cứu về thể chế giáo dục, thi cử và tuyển dụng quan lại của Nguyễn Đăng Tiến (1996), Nguyễn Tiến Cường (1998, 1999), Nguyễn Đức Nhuệ (2000, 2006), Trần Thị Vinh (2006, 2012, 2015), Phạm Đức Anh (2015), Đinh Khắc Thuân (2009), Bùi Xuân Đính (2010), Nguyễn Hải Kế (2010), Vũ Duy Mền (2011), Nguyễn Ngọc Quỳnh (2011), Nguyễn Công Lý (2011), Nguyễn Thúy Nga (2013), Trịnh Hoành (2014), Nguyễn Thành Nam (2017); nghiên cứu về các kỳ thi Hội, thi Đình và trường thi Thăng Long của Đỗ Thị Thùy Lan (2011), Lê Thị Thu Hiền (2006), Nguyễn Thị Chân Quỳnh (2001); nghiên cứu trường tư, văn bia khuyến học và di tích Nho học của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Quang Lộc (1993), Nguyễn Hoàng Điệp (2010), Đỗ Văn Ninh (1995, 2000), Phan Văn Các (2010), Trần Nghĩa (2010), Dương Văn Sáu (2008), Nguyễn Hữu Mùi (2006, 2019), Nguyễn Tuấn Cường (2009, 2017, 2019); nghiên cứu về các làng khoa bảng của Vũ Huy Phú (1997), Đinh Xuân Lâm (2002), Đỗ Văn Điện (2006), Hà Mạnh Khoa (2009), Bùi Xuân Đính (2011), Trịnh Nhu, Lê Trung Tấn, Nguyễn Đức Nhuệ.
Khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết là: Xây dựng một công trình khảo cứu chuyên sâu, bao quát và hệ thống về cả giáo dục và khoa cử Nho học của cả hai vùng Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII; làm rõ diện mạo giáo dục Nho học Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (ngôi trường "Học Cung", chế độ dạy học cho con em hoàng tộc, mạng lưới trường tư); mô tả sự xuất hiện của loại hình "trường dân lập" cấp làng xã thế kỷ XVIII và tính tiếp nối của truyền thống khoa bảng địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở nghiên cứu:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Được vận dụng nhằm phân tích mối quan hệ hai chiều giữa bối cảnh lịch sử, nhu cầu tuyển dụng quan lại của Nhà nước với sự phát triển của giáo dục, khoa cử trong hai thế kỷ XVII và XVIII.
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Giúp làm rõ tiến trình vận động, phát triển liên tục và tính kế thừa của nền giáo dục Nho học Đại Việt qua các thời kỳ lịch sử trước đó (Lý, Trần, Lê sơ, Mạc), đồng thời thực hiện thao tác so sánh đồng đại giữa hai thực thể chính trị Đàng Ngoài và Đàng Trong.
Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, thể chế trường lớp, sự thay đổi kiến trúc và quy chế của trường Quốc Tử Giám cũng như hệ thống trường địa phương theo tiến trình thời gian lịch đại; làm rõ sự ra đời của loại hình trường dân lập làng xã ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVIII.
- Phương pháp lôgic: Trình bày các vấn đề theo mối quan hệ nhân quả giữa biến động chính trị với chính sách trọng dụng nhân tài, cũng như tác động của đội ngũ Nho sĩ xuất thân khoa bảng đối với bộ máy chính quyền và đời sống xã hội.
- Phương pháp thống kê: Khai thác số liệu định lượng từ chính sử và đăng khoa lục để thống kê số lượng Giám sinh, phẩm hàm và chức quan của 68 học quan Quốc Tử Giám, số lượng trường tư, số khoa thi, số người đỗ Tiến sĩ, Hương cống, Sinh đồ ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh hệ thống giáo dục, quy chế thi cử giữa triều Lê - Trịnh và chúa Nguyễn; so sánh thời Lê - Trịnh với thời Lê sơ và thời Mạc để chỉ ra điểm tương đồng, sự kế thừa và nét đặc thù.
- Phương pháp khảo sát điền dã: Khảo sát dấu tích vật chất của các trường học cổ, sưu tầm văn bia khuyến học và gia phả dòng họ khoa bảng tại các địa phương thuộc đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Nguồn dữ liệu của luận án hoàn toàn dựa trên các văn bản thư tịch cổ chữ Hán, tài liệu văn bia, địa bạ, hương ước, gia phả dòng họ và các tài liệu ký sự, du ký phương Tây, Trung Hoa đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu sử dụng trong luận án, phân định rõ các khối tài liệu: chính sử triều đình Lê - Trịnh và triều Nguyễn (Đại Việt sử ký toàn thư, Cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện); sách đăng khoa lục (Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Quốc triều Hương khoa lục); tác phẩm khảo cứu của các học giả trung đại (Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí); văn bia khuyến học và gia phả; cùng các ghi chép của người nước ngoài (Alexandre de Rhodes, Samuel Baron, William Dampier, Tavernier, Chu Thuấn Thủy, Thích Đại Sán...).
Đồng thời, chương này phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân loại thành các nhóm công trình nghiên cứu giáo dục - khoa cử Nho học Việt Nam nói chung, các nghiên cứu về Đàng Ngoài, các nghiên cứu về Đàng Trong, và các chuyên khảo về từng khía cạnh như trường lớp, học quan, thể văn thi cử, văn bia và làng khoa bảng. Qua đó, chương 1 xác lập những luận điểm đã được giới nghiên cứu giải quyết và chỉ ra những nội dung mà luận án tiếp tục khảo cứu, làm sáng tỏ.
Chương 2: GIÁO DỤC NHO HỌC
Chương 2 phân tích mục đích giáo dục Nho học và thực trạng tổ chức giáo dục ở cả hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong:
- Mục đích giáo dục Nho học: Luận án chỉ ra ba mục đích cốt lõi: 1) "Học để làm người" (rèn luyện đạo đức tam cương ngũ thường); 2) "Học để làm quan" (tham gia bộ máy chính quyền, thi hành chính sự); 3) "Học để lưu danh muôn đời" (được vinh quy bái tổ, khắc tên bia đá, rạng danh dòng họ, làng xóm).
- Giáo dục Nho học Đàng Ngoài:
- Hệ thống trường công: Trường Quốc Tử Giám Thăng Long đặt tại thôn Minh Giám, huyện Thọ Xương. Luận án khảo sát các đợt trùng tu, mở rộng trường vào các năm 1645, 1662 (chúa Trịnh Tạc sai Tham tụng Phạm Công Trứ tu sửa), 1762 (Trịnh Doanh sửa trường), 1771 (Nguyễn Hoàn giải tỏa nhà dân quanh trường), 1785 (Trịnh Sâm sai Bùi Huy Bích sửa sang); sự kiện chúa Trịnh Sâm và Tể tướng Nguyễn Nghiễm cho đúc quả chuông lớn "Bích ung đại chung" tại nhà Thái học; quy chế họp bình văn vào ngày Sóc (mồng 1) và ngày Vọng (ngày 15) hàng tháng. Bên cạnh đó là các trường quan phương tại Kinh đô (Sùng Văn quán, Tú Lâm cục) và hệ thống trường Hương học ở cấp phủ (ước tính có khoảng 36 trường phủ ở miền xuôi).
- Hệ thống trường tư: Phát triển mạnh mẽ với ba loại hình: 1) Trường tư của danh sĩ (tiêu biểu như trường Hào Nam của Thám hoa Vũ Thạnh dạy tới 1000 học trò, trường của Nguyễn Đình Trụ, trường Phúc Giang - Trường Lưu của Nguyễn Huy Oánh với hàng vạn quyển sách, gần 500 bản khắc gỗ và tự biên soạn giáo trình Tứ thư toản yếu, Ngũ kinh toản yếu đại toàn); 2) Trường dân lập do nhân dân tự nguyện đóng góp tiền của, đất đai xây dựng (xuất hiện từ thế kỷ XVIII tại các xã Văn Trưng, Đại Định, Phú Đa huyện Bạch Hạc, xã Lại Thượng, Mục Xá, Hạc Bổng, Trạch Lộ); 3) Lớp học của các thầy đồ làng xã (như thầy đồ Dương Tồn, Đỗ Đình Tá, Dương Chung Tú).
- Học quan và học sinh: Khảo sát chức vụ Tế tửu, Tư nghiệp, Giáo thụ, Học chính, Giám bạ, Điển bạ, Điển nghĩa tại Quốc Tử Giám. Thống kê 68 học quan Quốc Tử Giám thời Lê - Trịnh cho thấy có 63 người đỗ Tiến sĩ (chiếm 92,6%), trong đó 19 người từng đảm nhiệm chức Thượng thư (Tòng nhị phẩm). Ở địa phương có Đề đốc học chính (đặt năm 1767 ở cấp trấn), Giáo thụ (cấp phủ), Huấn đạo (cấp huyện/châu). Luận án cũng chỉ ra các năm triều đình cho nộp tiền thóc để trao chức vụ (1721, 1740, 1742, 1760; năm 1742 nộp 250 quan bổ chức Huấn đạo, 300 quan bổ Điển bạ). Học sinh Quốc Tử Giám (Giám sinh) gồm 4 hạng: Ân giám, Ấm giám (con quan từ tứ phẩm trở lên, độ tuổi 9 - 17), Cử giám, Cống sinh; thời gian theo học trung bình 3 - 5 năm, có trường hợp Giám sinh niên thân theo học 15 năm.
- Giáo dục Nho học Đàng Trong: Chúa Nguyễn chủ trương xây dựng ngôi trường "Học Cung" tại thủ phủ Phú Xuân; duy trì hình thức gửi các công tử trong hoàng tộc đến học tại tư gia của các quan viên; hệ thống trường tư của các Nho sĩ giữ vai trò chủ đạo trong việc truyền dạy chữ Nho và đào tạo nhân lực tham gia các kỳ thi.
Chương 3: KHOA CỬ NHO HỌC
Chương 3 khảo cứu chi tiết hệ thống thi cử ở hai miền:
- Khoa cử Đàng Ngoài: Khảo sát quy chế tổ chức thi Hương (các trường thi địa phương), thi Hội (trường thi Hội tại Thăng Long), thi Đình (kỳ thi độc lập xếp hạng Tam giáp) và các khoa thi khác (thi Sĩ vọng, Hoành từ...). Phân tích các quy định về trường quy, coi thi, chấm thi, cách thức phân loại quyển thi, cùng chính sách đãi ngộ dành cho người đỗ đạt (ban mũ áo, yến tiệc ân tứ, vinh quy bái tổ, khắc tên lên bia đá Văn Miếu).
- Khoa cử Đàng Trong: Khảo sát các kỳ thi do chúa Nguyễn tổ chức gồm: Xuân thiên quận thí, Thu vi Hội thí (chia thành hai ngạch: khoa thi Chính đồ làm văn từ phú lục để bổ làm quan văn; khoa thi Hoa văn viết chữ thư pháp và làm tính để bổ vào các cơ quan phụ trách sổ sách, tài chính); các kỳ thi Thám phỏng, Tam ty. Luận án phân tích chính sách đãi ngộ người đỗ đạt và chỉ ra đặc điểm của khoa cử Đàng Trong là mang tính cởi mở, thực dụng, tổ chức các khoa thi tuyển chọn được nhiều Hương cống nhưng chưa tổ chức được kỳ thi Hội để lấy học vị Tiến sĩ như Đàng Ngoài.
| Thể loại bảng trong luận án |
Tên bảng và nội dung thống kê |
| Bảng 3.1 |
Các khoa thi thời chúa Nguyễn (thống kê các kỳ Xuân thiên quận thí, Thu vi Hội thí, Thám phỏng, Tam ty) |
| Bảng 4.1 |
Thống kê số Tiến sĩ chia ba giáp (Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp) |
| Bảng 4.2 |
Phẩm hàm và chức quan cao nhất các Tiến sĩ chia theo 3 giáp triều Lê - Trịnh |
| Bảng 4.3 |
Chức vụ cao nhất của Hương cống triều Lê - Trịnh |
Chương 4: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ NHO HỌC
Chương 4 đánh giá kết quả và tác động của giáo dục, khoa cử đối với xã hội:
- Đào tạo, cung cấp đội ngũ trí thức Nho học: Luận án thống kê số lượng Tiến sĩ và Hương cống qua các thời kỳ; phân tích cơ chế bổ dụng vào bộ máy chính quyền; làm rõ việc hình thành đội ngũ quan chức trung nghĩa, nhà Nho đức nghiệp và các danh sĩ tiêu biểu có đóng góp lớn trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, sử học, văn hóa như Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Vũ Miên...
- Duy trì và phát huy truyền thống hiếu học: Số lượng địa phương có người đỗ đạt ngày càng mở rộng từ trung tâm đồng bằng ra các vùng phụ cận; hình thành nhiều làng khoa bảng (Mộ Trạch, Tả Thanh Oai, Nguyệt Áng, Hội Am...) và các dòng họ khoa bảng danh tiếng (như dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu - Hà Tĩnh) gắn với các chính sách khuyến học, khuyến tài tại làng xã.
- Một số hạn chế: Luận án chỉ ra các hạn chế cố hữu của giáo dục Nho học thời kỳ này gồm: tư tưởng quá coi trọng bằng cấp, đề cao văn chương từ chương cử nghiệp; phương pháp dạy và học thiên về học thuộc lòng, tầm chương trích cú; xuất hiện các hiện tượng tiêu cực trong thi cử và việc triều đình ban hành lệ nộp tiền, thóc để nhận chức phẩm (năm 1721, 1740, 1742, 1760) làm suy giảm kỷ cương khoa cử.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và tư liệu như sau:
- Hệ thống hóa tổ chức trường lớp: Làm rõ thành phần học sinh, cơ cấu học quan và chế độ đãi ngộ tại trường Quốc Tử Giám thời Lê - Trịnh; bước đầu đưa ra nhận định chúa Nguyễn chủ trương xây dựng trường "Học Cung" tại Phú Xuân và làm rõ nét riêng biệt trong việc gửi công tử hoàng tộc học tại tư gia quan viên; thống kê mạng lưới trường tư của danh sĩ ở hai miền; phát hiện và mô tả loại hình "trường dân lập" do nhân dân tự đóng góp tiền bạc, ruộng đất xây dựng tại làng xã Đàng Ngoài từ thế kỷ XVIII.
- Thống kê số lượng khoa thi và việc bổ dụng: Thống kê số lượng các khoa thi và người đỗ thi Hương, thi Hội, thi Đình thời Lê - Trịnh; thống kê các khoa thi Thu vi Hội thí (Chính đồ, Hoa văn), Thám phỏng, Tam ty của chúa Nguyễn; làm rõ cơ cấu phẩm hàm và chức vụ bổ nhiệm của các vị Tiến sĩ và Hương cống trong bộ máy chính quyền.
- So sánh đối sánh Đàng Ngoài và Đàng Trong: Phân tích sự kế thừa và điểm khác biệt về thể lệ, tính chất giáo dục, khoa cử giữa hai miền; chỉ ra rằng giáo dục và khoa cử Đàng Trong hình thành muộn hơn nhưng nội dung mang tính cởi mở, thực tế hơn Đàng Ngoài, song chưa tổ chức được kỳ thi Hội để lấy học vị Tiến sĩ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự nêu rõ các giới hạn do điều kiện tư liệu và phạm vi xác định:
- Do nguồn tư liệu hạn chế, luận án chưa thể khảo cứu tình hình giáo dục và khoa cử tại vùng đất Cao Bằng dưới sự quản lý của nhà Mạc (tồn tại đến năm 1677).
- Luận án không đề cập đến giáo dục và khoa cử Nho học Đàng Trong giai đoạn từ sau năm 1777 (thời kỳ quản lý của triều Tây Sơn và chính quyền chúa Nguyễn Ánh tại Gia Định).
- Chưa khảo cứu việc học chữ Nho tại các cơ sở tôn giáo (nhà chùa) cũng như hoạt động giáo dục của bộ phận cư dân Chăm, Khơme.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng sưu tầm các nguồn tư liệu địa phương, gia phả, bi ký để tiếp tục khảo sát mảng giáo dục Nho học tại các vùng đất biên viễn (Cao Bằng thời Mạc) và giai đoạn chuyển tiếp cuối thế kỷ XVIII ở vùng đất Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Giáo dục, Văn hóa học, Hán Nôm học.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương, dòng họ khi tìm hiểu về truyền thống hiếu học, làng khoa bảng, di tích Văn Miếu, văn bia khuyến học và hành trạng các danh nhân khoa bảng thế kỷ XVII - XVIII.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách giáo dục trong việc tham khảo bài học lịch sử về phương thức đào tạo, tuyển chọn và đãi ngộ nhân tài, phân bổ chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Phần nội dung có giá trị tra cứu cao nhất là hệ thống bảng biểu thống kê về 68 học quan Quốc Tử Giám, danh sách các trường tư thục danh sĩ, số lượng Tiến sĩ phân theo ba giáp, cơ cấu phẩm hàm bổ dụng quan lại, và nguồn tư liệu khảo cứu về trường dân lập làng xã thế kỷ XVIII.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu phẩm hàm và trình độ học vấn của đội ngũ Học quan tại Quốc Tử Giám thời Lê - Trịnh như thế nào?
Theo bảng thống kê 68 học quan Quốc Tử Giám trong luận án, tỷ lệ học quan có trình độ Tiến sĩ chiếm 92,6% (63/68 vị), đỗ tam trường thi Hội chiếm 2,9% (2/68 vị), và không rõ xuất thân chiếm 4,4% (3/68 vị). Về phẩm hàm cao nhất từng đảm nhiệm, có 19 người đạt trật Thượng thư (Tòng nhị phẩm), 22 người trật bậc 3 (Chánh/Tòng tam phẩm), 21 người trật bậc 4 (Chánh/Tòng tứ phẩm), 3 người trật bậc 5 (Chánh/Tòng ngũ phẩm), và 3 người trật bậc 8.
2. Điểm đặc thù của loại hình "trường dân lập" xuất hiện ở làng xã Đàng Ngoài thế kỷ XVIII là gì?
Đây là loại hình trường học do người dân ở làng xã tự nguyện quyên góp tiền của hoặc ruộng đất để xây dựng mà không có sự hỗ trợ kinh phí từ Nhà nước. Tư liệu văn bia ghi nhận ngôi trường sớm nhất mở tại xã Văn Trưng (huyện Bạch Hạc) trên 3 sào đất; năm 1756 mở tại xã Đại Định; năm 1767 dân xã Phú Đa (huyện Bạch Hạc) quyên 800 quan tiền cổ dựng 2 dãy nhà học 5 gian; ngoài ra còn xuất hiện tại các xã Lại Thượng, Mục Xá, Hạc Bổng, Trạch Lộ.
3. Hệ thống thi cử thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong gồm những kỳ thi nào và có điểm gì khác biệt so với Đàng Ngoài?
Chúa Nguyễn tổ chức các kỳ thi: Xuân thiên quận thí, Thu vi Hội thí (gồm hai ngạch: khoa Chính đồ thi văn từ phú lục để bổ làm quan văn, khoa Hoa văn thi viết chữ và làm tính để bổ làm việc sổ sách, tài chính), kỳ thi Thám phỏng và Tam ty. Khác với Đàng Ngoài có kỳ thi Hội và thi Đình lấy học vị Tiến sĩ, Đàng Trong chỉ lấy đỗ đến bậc Hương cống và chưa tổ chức được kỳ thi Hội để lấy Tiến sĩ.
4. Mô hình trường tư thục Phúc Giang (Trường Lưu) của Nguyễn Huy Oánh có quy mô và cơ chế hoạt động ra sao?
Trường Lưu học hiệu gắn với Phúc Giang thư viện (lập năm 1767 tại Hà Tĩnh) lưu giữ hàng vạn quyển sách và gần 500 bản khắc gỗ. Trường có hàng ngàn học trò, đào tạo được 30 người đỗ Tiến sĩ. Trường tự biên soạn giáo trình giảng dạy cấp cao (Tứ thư toản yếu, Ngũ kinh toản yếu đại toàn, Quốc sử toản yếu), có "Ruộng khoa danh" khen thưởng người đỗ đạt và đặt chế độ "Học điền" năm 1785 để trợ cấp học trò nghèo.
5. Chính sách nộp tiền thóc để nhận chức quan (tiền lệ quyên quan) thời Lê - Trịnh tác động đến chức học quan ra sao?
Triều Lê - Trịnh ban hành lệ nộp tiền thóc nhận chức phẩm vào các năm 1721, 1740, 1742, 1760. Quy định năm 1742 nêu rõ: người chưa có phẩm hàm nếu nộp 250 quan tiền thì được bổ chức Huấn đạo (học quan cấp huyện/châu), Phó sở, Tri sự; nộp 300 quan được bổ Điển bạ, Tri bạ. Quan Huấn đạo muốn thăng Tri huyện/Tri châu phải nộp 250 quan, muốn thăng Tự thừa phải nộp 400 quan.
Kết luận
Luận án "Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII" là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng bức tranh toàn cảnh về thể chế giáo dục và khoa cử Nho học ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong. Tác giả đã kết hợp phương pháp lịch sử, lôgic, so sánh và thống kê định lượng trên nguồn tư liệu Hán Nôm và thư tịch phong phú để làm rõ mô hình trường lớp, cơ cấu học quan, quy chế thi cử cùng chính sách bổ dụng nhân tài của hai chính quyền Lê - Trịnh và chúa Nguyễn. Công trình chỉ ra những đóng góp của tầng lớp trí thức Nho học đối với sự phát triển chính trị, văn hóa của quốc gia, sự tiếp nối của truyền thống hiếu học làng xã, đồng thời phân tích khách quan các hạn chế mang tính lịch sử của nền cử nghiệp thời quân chủ.