Chương 1: Cơ sở hình thành khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á. Nghiên cứu sự hình thành các hiệp định thương mại tự do trên thế giới và khu vực Đông Á. Các yếu tố tác động đến việc hình thành khu vực thương mại Đông Bắc Á gồm: yếu tố về địa lý, an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Chương 2: Nỗ lực hướng tới khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á Nghiên cứu thuận lợi và khó khăn trong việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á, những nỗ lực riêng và chung trong việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á.
Chương 3: Triển vọng khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á Nghiên cứu cơ hội và thách thức, dự đoán tác động và đánh giá triển vọng của việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KHU VỰC THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐÔNG BẮC Á 1. Sự hình thành các hiệp định thƣơng mại tự do 1.1 Sự hình thành các hiệp định thương mại tự do trên thế giới Từ những thập niên 90 của thế kỷ XX, trật tự hai cực Yalta2 chấm dứt, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa trở thành trọng tâm trong quan hệ quốc tế, những biến đổi mang tính tất yếu xảy ra.
Sự hình thành các tổ chức khu vực tạo nên những thay đổi sâu rộng cả lượng và chất, sự tham gia của nhiều quốc gia đã và đang phát triển tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn cùng với nó là xu hướng tự do hóa thương mại, tăng cường hợp tác kinh tế khu vực. Các nước đang phát triển tăng cường mối quan hệ mật thiết với các thể chế kinh tế quốc tế và khu vực; do đó vai trò, vị thế cũng ngày càng được nâng cao và hiển nhiên mối quan hệ “phụ thuộc” giữa các quốc gia trở nên mạnh mẽ, bền chặt hơn. Bất kì thay đổi nào dù là nhỏ nhất cũng có thể gây ra ảnh hưởng mang tính hệ thống. Xu thế hợp tác đã tạo nên mối quan hệ vô hình mà bền chặt giữa các nền kinh tế, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng.
Do đó, tác động của khủng hoảng ở một khu vực nào đó dù không lớn nhưng vẫn có nguy cơ tiềm ẩn đe dọa sự sống còn của nền kinh tế tài chính. Những thập niên đầu thế kỷ XXI với đặc trưng là sự thay đổi toàn diện về liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu; xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa tiếp tục được thúc đẩy và biến hóa ở mức cao hơn, điển hình là sự xuất hiện ngày càng 2 Hội nghị Yalta tháng 2/1945 về việc tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và Chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã góp phần dẫn đến sự hình thành trật tự thế giới mới sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thường được gọi là trật tự hai cực Yalta, chủ yếu do hai siêu cường là Mỹ và Liên Xô phân chia nhau phạm vi ảnh hưởng. Trật tự hai cực sụp đổ sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988 – 1991. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phổ biến các cơ chế hợp tác; hợp tác đa phương toàn khu vực, hợp tác đa phương tiểu khu vực, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực (RTA/BFTA) tiếp tục được hình thành, phát triển đa dạng hơn.
Xu thế liên kết kinh tế khu vực xuất hiện như một tất yếu của quá trình toàn cầu hóa. Các quốc gia trong cùng vị trí địa lý nhận thức tầm quan trọng của hợp tác song phương lẫn đa phương. “Khu vực hóa kinh tế là biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế trong phạm vi khu vực, hai quá trình này có tác động bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau” [61, tr. Sự nổi lên của hợp tác kinh tế trong khu vực và song phương phản ánh kết quả của toàn cầu hóa.
Hợp tác đa phương gặp khó khăn được thay thế bởi xu thế song phương và khu vực nhằm tạo ra con đường dễ dàng hơn, tiền đề cho các hình thái hợp tác cao hơn. Theo nhận định của Lê Văn Sang đặc điểm của hợp tác khu vực được thể hiện như sau: “Một là, phát triển với tốc độ rất nhanh, có thể thấy qua sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của 3 tổ chức kinh tế khu vực lớn nhất toàn cầu là EU, NAFTA và APEC; hai là lan rộng khắp toàn cầu, biểu hiện ở số lượng các tổ chức hợp tác kinh tế mang tính khu vực hoặc tiểu khu vực tăng nhanh ở mọi châu lục; ba là, Nam-Bắc cùng liên kết hợp tác với nhau, NAFTA, APEC đến EU mở rộng đều có nhiều nước đang phát triển tham gia; bốn là các tiểu khu vực đi trước một bước, điều này thể hiện đậm nét trong tiến trình liên kết kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương” [61, tr. Liên kết kinh tế - thương mại khu vực được hình thành bởi các hiệp định hợp tác có tính khu vực nhằm hỗ trợ lẫn nhau về mọi mặt, nhất là trong hoạt động kinh tế - thương mại và được tổ chức thực hiện theo các hình thức và mức độ cao dần như sau: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu vực mậu dịch tự do (FTA) là liên kết kinh tế có tính thống nhất, các nước trong liên kết cùng thỏa thuận thuận lợi hóa trong hoạt động đầu tư và thương mại giữa các nước thành viên bằng cách thỏa thuận cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan; thuận lợi hóa hoạt động đầu tư vào nhau, các nước xây dựng các chương trình hợp tác kinh tế và đầu tư vì sự phát triển chung của các nước thành viên. Thực hiện đơn giản hóa thủ tục hải quan và thị thực xuất nhập cảnh tạo điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ, hoạt động đầu tư của các thành viên thâm nhập vào nhau.
FTA là hình thức liên kết phổ biến của thương mại tự do. Một mặt, các nước có thể hợp tác, phát triển nền kinh tế, mặt khác đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường và các mối quan hệ thương mại, đầu tư. Ở dạng thức này có sự xuất hiện của khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA. NAFTA được hình thành từ năm 1994 đã góp phần đẩy mạnh liên kết kinh tế ở khu vực.
Từ cơ sở Hiệp định tự do buôn bán Bắc Mỹ - Canađa, đến nay lượng thành viên đã mở rộng khắp cả châu Mỹ; khu vực thương mại tự do AFTA của ASEAN thành lập vào băn 1992 đã góp phần đẩy mạnh quá trình liên kết kinh tế khu vực của 10 quốc gia Đông Nam Á. Liên minh thuế quan (Custom Union) là hình thức liên kết có tính thống nhất tổ chức cao hơn so với FTA, mang toàn bộ đặc điểm của FTA, tuy nhiên có những điểm khác như: Các nước trong liên minh thỏa thuận xây dựng một cơ chế hải quan thống nhất áp dụng chung cho các nước thành viên, qua đó cùng nhau xây dựng biểu thuế quan thống nhất áp dụng trong hoạt động thương mại với nước ngoài liên kết, tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương thống nhất mà mỗi nước phải tuân thủ. Các Liên minh thuế quan tiêu biểu là: Liên minh thuế quan giữa Nga - Belarus - Kazakhstan, Liên minh thuế quan và kinh tế Trung Phi (UDEAC). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thị trường chung (Common Market) là hình thức phát triển cao hơn của liên kết kinh tế - thương mại giữa các nước.
Các nước thành viên thuộc thị trường chung thỏa thuận xóa bỏ những trở ngại đến quá trình buôn bán lẫn nhau như: thuế quan, hạn ngạch, giấy phép…; xóa bỏ các trở ngại cho quá trình tự do di chuyển tư bản và sức lao động giữa các nước thành viên. Đồng thời, tiến hành xây dựng cơ chế chung điều tiết thị trường của các nước thành viên. Tiến tới xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại chung trong quan hệ với các nước ngoài khối. Khối thị trường chung có các hình mẫu tiêu biểu như: Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), thị trường chung Trung Mỹ (CACM), thị trường chung các nước vùng Caribe (CARICOM).
Liên minh kinh tế (Economic Union) là hình thức liên kết kinh tế có tính tổ chức thống nhất cao hơn so với thị trường chung. Trong đó, các nước trong liên minh xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế nội địa chung như chính sách phát triển kinh tế ngành, phát triển kinh tế vùng mà không bị chia cắt bởi biên giới lãnh thổ giữa các nước thành viên. Các nước cùng nhau lập ra bộ máy điều hành có tác dụng điều khiển, phối hợp các hoạt động của liên minh kinh tế. Liên minh tiền tệ (Monetary Union) là hình thức liên kết kinh tế cao nhất, là tổng hòa của nhiều nền kinh tế, có thể xem như kết quả của hợp tác đa quốc gia với những đặc điểm: có chính sách kinh tế, đối ngoại chung, ra đời đồng tiền chung có hiệu lực trên tất cả các quốc gia, ngân hàng trung ương thay thế cho hệ thống ngân hàng khu vực, xây dựng quỹ tiền tệ chung… hướng tới cái đích cao hơn là liên minh chính trị.
Theo Inkyo Cheong và Bùi Trường Giang: “Các hiệp định thương mại tự do trước đây thường chú trọng việc đối xử ưu tiên trong trao đổi hàng hóa như 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xóa bỏ thuế đánh vào các mặt hàng chế tạo và hàng nông sản, nhưng những hiệp định gần đây lại phát triển theo hướng mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như đầu tư và dịch vụ, đồng thời bao hàm các quy định thương mại như chính sách cạnh tranh, chống phá giá, quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục chính quyền… Ngoài ra, các hiệp định mới ít chú trọng đến yếu tố gần kề về địa lý, do vậy các nước ở xa nhau về khoảng cách địa lý cũng có thể tích cực thúc đẩy các hiệp định thương mại tự do song phương với nhau” [50, tr. Các hiệp định thương mại tự do hiện nay không có sự phân biệt về trình độ phát triển kinh tế, một khu vực có thể bao gồm nhiều nền kinh tế với sự đa dạng về thể chế (AFTA, CAFTA) hoặc trình độ phát triển (NAFTA, AFTA).