mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự. Trong trường hợp xác định có dấu hiệu của hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, trong đa số các trường hợp, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVAHS làm cơ sở pháp lý để tiến hành các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự. Mọi hoạt động hình sự chỉ có thể được tiến hành hợp pháp khi có quyết định KTVAHS (trừ một số trường hợp đặc biệt). Đồng thời, quyết định KTVAHS sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm.
- về mặt chính trị - xã hội: KTVAHS là một biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa, đấu tranh, phòng chống tội phạm của Nhà nước. KTVAHS kịp thời, có căn cứ góp phần ngăn chặn những tội phạm chưa xảy ra, giảm thiểu đến mưc thấp nhất những tổn thất có thể gây ra cho xã hội, nhanh chóng xử lý đảm 11 bảo người thực hiện tội phạm phải chịu hình phạt tương ứng với tội phạm mà họ gây ra. Ngược lại, việc KTVAHS không chính xác, kịp thời có thể dẫn đến việc chứng cứ bị tiêu hủy, tang vật bị tẩu tán, khó khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan. Từ đó có thể thấy được, việc KTVAHS kịp thời, chính xác góp phần đảm bảo được sự bình yên cho xã hội, tạo sự yên tâm và tin tưởng đối với nhân dân.
Khỏi tố vụ• án hình sự• theo yêu •/ cầu của bị• hại• 1. Khái niệm, đặc điểm của bị hại • bị• hại Khái niệm • Đầu tiên, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản. Cá nhân này có thể là công dân Việt Nam, hoặc công dân nước ngoài nhưng phải là một con người cụ thề đang tồn tại. “Theo pháp luật Việt Nam, sự tồn tại đỏ bắt đầu từ khi người ta sinh ra còn song và kết thúc khi được xác định là đã chết” [33] Hai là, bị hại là cơ quan, tồ chức được thành lập, tồn tại và đang hoạt động hợp pháp tại thời điểm bị tội phạm gây ra, hoặc đe dọa gây ra thiệt hại.
Thiệt hại do tội phạm gây ra cũng rất đa dạng, có thể là thiệt hại về thể chất (tính mạng, sức khỏe.); thiệt hại về tinh thần (danh dự, uy tín, nhân phẩm.); thiệt hại về tài sản (quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Thiệt hại phải là thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội. Trong một số trường hợp, do thiệt hại của tội phạm là quá lớn, tội phạm có thể bị xừ lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội, trong trường hợp này bị hại là cá nhân, tổ chức, cơ quan mà tội phạm đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp về mặt pháp lý, một người, cá nhân, tổ chức, cơ quan chỉ có thể được xem là bị hại khi được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là bị hại. Hậu quả pháp lý 12 là bị hại có những quyên và nghĩa vụ riêng của mình được pháp luật quy định.
Tuy nhiên, đây chỉ là quy định về mặt hình thức. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xem xét bị hại dưới góc độ là chủ thể chịu thiệt hại từ tội phạm. Vì thế các chủ thế này mới có quyền làm đơn yêu cầu KTVAHS với tư cách là bị hại, mà không cần phải chờ các cơ quan có thấm quyền xác định tư cách bị hại rồi mới có quyền làm đơn yêu cầu KTVAHS trong các trường hợp KTVAHS theo yêu cầu bị hại. Khái niệm của bị hại đà được rất nhiều các công trình nghiên cứu trước đây tổng kết và đưa ra.
Tác giả xin đưa ra một số ví dụ như sau: Tác giả Trịnh Quang Thắng trong luận văn thạc sĩ “Người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” định nghĩa: “Người bị hại là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận ”[33, tr 11] Giáo trình luật tố tụng hình sự, Đại học cần Thơ thì định nghĩa: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thê chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” [1, tr 42J Theo quy định tại Điều 62 BLTTHS 2015: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thê chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tô chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [30, Điều 62]. Tuy ngắn gọn và có đôi chỗ khác biệt nhưng các khái niệm trên đều thừa nhận mỗi quan hệ nhân quả giữa tội phạm và thiệt hại của bị hại, cũng như những loại thiệt hại mà bị hại có thế phải gánh chịu do tội phạm gây nên. Tuy nhiên, với sự bố sung tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” vào nhóm những tội KTVAHS theo yêu cầu bị hại thì việc bổ sung chủ thể là cơ quan, tổ chức vào bị hại là cần thiết, phù họp với tình hình thực tế. 13 Tiêp thu và tông hợp từ những công trình nghiên cứu trước đây, tác giả xin đưa ra định nghĩa bị hại như sau: “Bị hại là cá nhân, cơ quan, tố chức chịu thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, hoặc đe doạ gây ra về thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín” Đặc • điểm của bị• hại • Từ những phân tích nêu trên ta có thế rút ra một vài đặc điểm của bị hại như sau: Thứ nhất, đối với trường hợp bị hại là cá nhân.
Cá nhân này có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài. nhưng phải là người đang còn sống. Điều này có nghĩa là người chưa được sinh ra (thai nhi), hoặc người đã chết thi không được coi là bị hại. Vì vậy, Người đã chết do tội phạm cũng không được coi là bi hại.
Thứ hai, trường hợp bị hại là cơ quan, tổ chức. Đây là một quan điềm mới của BLHS 2015 và BLTTHS 2015, trước đây pháp luật chỉ thừa nhận bị hại là cá nhân. Cơ quan, tổ chức được coi là bị hại có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân, tuy nhiên cơ quan, tổ chức được coi là bị hại phải được thành lập hợp pháp, và đang hoạt động, tồn tại tại thời điểm tội phạm xảy ra. Tương tự như đặc điểm thứ nhất, cơ quan, tổ chức không còn tồn tại, hoặc đã giải thề.
thì không được coi là bị hại Thứ ba, thiệt hại của bị hại phải do tội phạm trực tiếp gây ra, có mối quan hệ nhân quả và phải là thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, danh dự. Thiệt hại của bị hại phải do tội phạm trực tiếp gây ra khi tội phạm xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại đó phải là trực tiếp, và có mối quan hệ nhân quả đối với tội phạm. Điều đó có nghĩa là, vì có tội phạm nên mới xảy ra thiệt hại, những hành vi cùa người thực hiện tội phạm trực tiếp gây ra 14 những tôn thât, thiệt hại, cho bị hại.
Không phải trường hợp nào bị thiệt hại do tội phạm cũng là bị hại, mà còn có thể là nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự. Thiệt hại của bị hại có thể là về thể chất (tính mạng, sức khỏe.), tinh thần (danh dự, nhân phấm. Đối với những thiệt hại về thế chất và tài sản thì có thể dễ dàng xác định thiệt hại; đối với những thiệt hại về tinh thần, uy tín của bị hại thì cần phải cẩn thận cân nhắc, đánh giá đê xác định mức thiệt hại. Tuy nhiên, đối với những tội phạm xâm phạm về tinh thần, uy tín của bị hại thì đa số đều là “tội cấu thành hình thức, nghĩa là chỉ cần thực hiện hành vi xâm phạm đến danh dự, uy tín của bị hại thì đã đủ điều kiện để cấu thành tội phạm.
Khái niệm, đặc điếm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 9 theo •/yêu cầu của bị• hại • khởi tố vụ• án hình sự Khái niệm • Khái niệm KTVAHS theo yêu cầu bị hại đã được một số tác giả đưa ra như sau: Tại bài viết “Bàn về khía cạnh người bị hại trong quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, Tạp chí nghề Luật số 02/2014, tác giả Ngô Văn Vịnh định nghĩa: “KTVAHS theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của KTVAHS, áp dụng đối với một sổ tội phạm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và một số quyền nhân thân của bị hại là các nhân hoặc tài sản, uy tín của bị hại là cơ quan, tô chức, theo đó, cơ quan có thấm quyền tiến hành tố tụng khỉ xác định có dấu hiệu của tội phạm chỉ được ra quyết định KTVAHS khi có yêu cầu bị hại ” [24] Tác giả Phạm Thái tại Tạp chí Luật học số 09/2016, trong bài viết “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại” định nghĩa: “KTVAHS theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của KTVAHS, phát sinh đối với một số tội phạm xâm hại sức khỏe, danh dự, tuy tín, nhân phẩm, quyền sở hữu công nghiệp của bị hại, do tính chất, mức độ của hành vi, hậu quả do hành vi gây ra và vì lợi ích của bị 15 hại nên cơ quan có thâm quyên khi xác định hành vi có dâu hiệu của tội phạm không tự ý ra quyết định KTVAHS mà việc ra quyết định KTVAHS chỉ khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuồi, người có nhược diêm về thâm thần hoặc thê chất hoặc đã chết” [23] Trong đa số các trường hợp, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVAHS để đảm bảo nhanh chóng, kịp thời xử lý nghiêm minh người thực hiện tội phạm, và kịp thời sửa chữa, khắc phục hậu quả mà tội phạm gây ra. Như vậy, trong đa số các trường hợp, việc KTVAHS là trách nhiệm, và là nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, mà không phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép, hay yêu cầu của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác.