Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Khóa tu Tịnh độ Thuật ngữ ‘khóa tu’ thường sử dụng trong các sinh hoạt tu học của Phật giáo. Theo cuốn “Cẩm nang tổ chức khóa tu” chùa Hoằng Pháp khái niệm: “Khóa tu là hoạt động đời sống tâm linh theo lời Phật dạy trong một thời gian nhất định… Khóa tu chú trọng việc thực tập lời Phật dạy”[14, tr.
Như vậy, khóa tu là thời gian tín đồ thực hành những phương pháp tu tập trong Phật giáo. Thuật ngữ ‘Tịnh độ” được sử dụng trong Phật giáo để chỉ một nơi thanh tịnh hay trạng thái an lạc của tâm. Trong Từ điển Phật học Huệ Quang giải thích: “Tịnh độ là thế giới trang nghiêm thanh tịnh. Thế giới này do chư Phật kiến lập bằng cách tích lũy công đức trong vô lượng kiếp…”.
Ngoài ra, Tịnh độ còn được hiểu là trạng thái an lạc của tâm mà người tu tập đạt được. Như vậy, “khóa tu Tịnh độ” là thực nghiệm đời sống tâm linh theo lời Phật dạy trong một thời gian nhất định, để đạt được trạng thái an lạc của tâm. Tín đồ Phật giáo Thuật ngữ ‘Tín đồ’ theo Đại từ điển tiếng Việt giải thích: “Tín đồ là người theo một tôn giáo nào đó” [80, tr. Còn theo từ Điển Tôn Giáo định nghĩa: “Tín đồ là những ai tin ở những gì một tôn giáo dạy bảo và qua một thủ tục nhập đạo” [30, tr.633] để trở thành những thành viên của tôn giáo đó.
Trong Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên giải thích: “Tín đồ là người tin theo một tôn giáo nào đó” [46, tr 1792] và thực hành các nghi lễ tôn giáo một cách xuyên suốt. Ngoài các định nghĩa và giải thích trên, thuật ngữ tín đồ còn được “Pháp Lệnh tín ngưỡng, Tôn giáo” năm 2004, nhận định trong điều 3, khoản 8 như sau:“Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Như vậy, tín đồ được hiểu là người tin theo một tôn giáo và thực hành các nghi lễ tôn giáo. Đồng thời phải được tổ chức tôn giáo thừa nhận.
Thuật ngữ tín 12 đồ theo hiện nay được mở rộng hơn thì tín đồ là những người có niềm tin và thực hành các nghi lễ tôn giáo. Thuật ngữ “Tín đồ Phật giáo”, theo Từ Điển Huệ Quang giải thích: “Tín chúng của giáo đoàn Phật giáo. Theo nghĩa rộng thì bảy chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa Ma Na, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Nói theo nghĩa hẹp thì tín đồ chỉ cho Ưu bà tắc, Ưu bà di” [8, tr.
Trong Hiến chương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, tại chương X, điều 60 giải thích: “Tín đồ cư sĩ phật tử Giáo Hội Phật giáo Việt Nam là những người tin tưởng Phật pháp, thực hành theo giáo lý Đức Phật và tùy khả năng, tự nguyện thọ trì giới luật Phật chế” [22]. Ngoài ra, trong bài tham luận của TS. Nguyễn Quốc Tuấn có ghi: “Tín đồ Phật giáo (hay Phật tử) là người tự nguyện tin tưởng vào lời dạy của Đức Phật Thích Ca và Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Niềm tin đó được biểu thị qua việc thực hành nghi lễ và sinh hoạt Phật giáo ở các cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng” [69].
Như vậy, tín đồ Phật giáo hiểu theo nghĩa rộng hơn là những người có niềm tin sâu sắc và thực hành các nghi lễ của Phật giáo trong đời sống tâm linh của mình. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng Tín đồ Phật giáo là những người có niềm tin và thực hành theo nghi thức tu học của Phật giáo để đem lại đời sống an vui, hạnh phúc cho mình.3 Tu tập và đạo tràng - Tu tập Tu tập theo tiếng Sankrit và tiếng Pali đọc là: “Bhavana”, tiếng Trung Hoa viết là 修集, dịch sang tiếng Việt gọi là “Tu tập”.Tu tập phân tích cụ thể thì :“tu” là sửa, “tập” là rèn luyện, là sự lặp đi lặp lại nhiều lần. Vậy “tu tập” là thường thực hành các pháp môn lặp đi, lặp lại nhiều lần để mong đạt được mục đích an lạc, hạnh phúc. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang giải thích, tu tập là: “Thường hằng huân tập.
Tức thực hiện các pháp lành nhiều lần, để mong đạt đến mục đích thành Phật” [8, tr. 13 Theo Nhiếp Đại Thừa Luận Thích 8 ( bản dịch đời Lương), thì tu tập của Phật giáo được giải thích gồm có 4 loại: “1) Trường thời tu: Tu hành trong thời gian dài. 2) Vô gián tu: Tu hành không dừng nghỉ. 3) Cung kính tu: Tu hành với tâm chí thành cung kính.
4) Vô dư tu: Tu hành hoàn toàn không thiếu xót. Đại sư Thiện Đạo đời Đường dùng pháp tu này để làm phép tắc tu hành cho tông Tịnh Độ” [8, tr. Như vậy, tu tập là hành động lập đi, lập lại thường xuyên với một pháp tu nào đó. Quá trình thực hiện pháp tu giúp tín đồ an lạc và hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Trong sinh hoạt, Phật giáo đặc biệt xem trọng việc tu tập. Vì tu tập giúp hành giả tinh tấn hành trì trong chánh pháp, để đạt được mục đích cứu cánh của mình. - Đạo tràng Thuật ngữ “đạo tràng” trong tiếng Phạn đọc là “Bodhi-manda”, tiếng Trung Hoa viết là : “道場”, dịch sang tiếng Việt gọi là “đạo tràng”. Đạo tràng là nơi tu tập của tăng sĩ và tín đồ Phật giáo để thực hiện các nghi lễ tôn giáo một cách nghiêm túc.
Theo Từ Điển Phật học Huệ Quang, “Đạo tràng” được giải thích: “Đạo tràng là nơi tu hành Phật đạo” hay “Phạm vi đã được kiết giới để thành lập Đạo tràng Bản tôn, tu Đạo tràng quán của hành giả Mật tông” [7, tr. Ngoài ra, Phật Quang Đại Từ Điển giải thích rõ: “Đạo Tràng, Tên gọi khác của chùa. Vua Dượng Đế nhà Tùy từng ban lệnh đổi tên chùa là Đạo tràng” [16, tr. Như vậy, đạo tràng là nơi tu tập để thực hành các nghi lễ tôn giáo của tăng sĩ và tín đồ Phật giáo.
Với nghĩa này, thì các cơ sở Phật giáo như: chùa, tịnh xá, thiền viện, niệm Phật đường, tịnh thất,. là những đạo tràng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì: đạo tràng là nơi hội tụ những tín đồ chuyên tu theo một pháp môn Tịnh độ nhất định nào đó như: đạo tràng chuyên tụng kinh 14 Pháp Hoa gọi là “đạo tràng Pháp Hoa”, đạo tràng chuyên tu pháp môn niệm Phật gọi là “đạo tràng niệm Phật”, đạo tràng chuyên tu Bát quan trai giới gọi là “đạo tràng Bát quan trai”,v. Nhập thế Nhập thế là sự dấn thân của con người tham gia vào các hoạt động thiện nguyện của xã hội, nhằm đem lại lợi ích, an vui cho mọi người.
Theo Đại Từ Điển Tiếng Việt giải thích:“Nhập thế là gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [80, tr. Cũng theo quan điểm trên, Từ điển Hán Việt Từ Nguyên giải thích: nhập thế có nghĩa là “vào đời tức là lãnh một nhiệm vụ gì trong xã hội” [46, tr. 1313], để đem lại sự an vui, hạnh phúc cho con người, góp phần làm cho xã hội ngày càng đẹp hơn. Đứng trên lập trường quan điểm của Phật giáo, nhập thế có nghĩa là: các Tăng sĩ tham gia vào các hoạt động thiện nguyện, công ích của xã hội.
Hoạt động đó đem đến lợi lạc, an vui hạnh phúc cho con người và xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp với mục đích làm “tốt đạo, đẹp đời”. Để hoạt động hoằng pháp của Phật giáo ngày càng phát triển và phổ biến, việc giải thích các thuật ngữ trên, sẽ giúp cho quá trình tìm hiểu hoạt động nhập thế của Phật giáo một cách dễ dàng. Vậy thì, các lý thuyết tiếp cận là cơ sở lý luận để phân tích, làm rõ chức năng và giá trị hoạt động nhập thế của Phật giáo là vô cùng cần thiết. Lí thuyết tiếp cận Để có cơ sở lí giải về những hoạt động nhập thế của Phật giáo tại thành phố Hồ Chí Minh.
Chúng tôi áp dụng hai lí thuyết khoa học: lý thuyết chức năng và lý thuyết hành động xã hội. Lý thuyết chức năng (Functionalism) Lý thuyết chức năng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lý luận và thực tiễn của khoa học xã hội. Trường phái chức năng ra đời tại nước Anh, vào những năm đầu của thế kỷ XX. Người có công lớn trong việc phát triển lý thuyết 15 nầy là Emile Durkheim.
Dựa vào các lý thuyết chức năng, Emile Durkheim đã nghiên cứu, phân tích rất khoa học và logic về sự phân công lao động, tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội. Việc phân công lao động theo từng chức năng sẽ giúp cho các tổ chức xã hội hoàn thành tốt chức năng của mình. Khi các tổ chức xã hội hoạt động tốt, là điều kiện để thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Theo Emile Durkheim: “Mỗi một yếu tố, một thành phần, một bộ phận cấu thành của xã hội đều thực hiện những chức năng và thỏa mãn những nhu cầu nhất định của hệ thống xã hội.
Thay đổi một yếu tố hay một bộ phận nào đó, sẽ kéo theo sự thay đổi các bộ phận, các yếu tố khác và làm biến đổi cả hệ thống”[85]. Tư tưởng tích cực của ông đã được Parsons phát triển lên mức hoàn thiện nhất. Đặc biệt, Parsons đã trình bày các chức năng xã hội một cách logic và có hệ thống chặt chẽ. Có thể tóm tắt như sau: “Mọi xã hội trong bản chất nội tại của nó luôn có xu hướng tiến tới sự hài hòa và tự điều chỉnh…Các bộ phận riêng phải phục tùng những nhu cầu cụ thể của cả hệ thống.
Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự bền vững của tổng thể”[79, tr. Vì thế, tìm hiểu chức năng là tìm hiểu những tác động của các bộ phận để tạo sự ổn định cho xã hội, chấn chỉnh xã hội sao cho phù hợp với bản chất bên trong của các bộ phận. Ngoài ra, còn có thuyết chức năng luận của hai nhà nhân học là B. Lý thuyết chức năng luận của hai ông đi sâu vào phân tích chức năng tâm lý của con người trong việc thực hành nghi lễ và các phong tục khác.
Các ông cho rằng:“chức năng tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, giúp họ tránh đi những sợ hãi, lo lắng bởi những rủi ro, bất trắc khó lường trong cuộc sống” [3, tr. Cùng quan điểm đó, nhà chức năng luận Thomas O’ Dea lý giải rằng: “Trong cuộc sống, con người luôn đối diện với những sự thất bại, mất mát.