CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sinh lý răng miệng trẻ em 1. Cấu tạo khoang miệng Theo cuốn giáo trình sự pháp triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non thì khoang miệng có cấu tạo như sau: "Khoang miệng là đoạn đầu tiên, là cửa ngõ của ống tiêu hóa. Phía trước của miệng là hai môi, phía sau là hầu (họng), phía trên là vòm khẩu cái, phía dưới là nền miệng và hai bên là má.
Trong miệng có răng, lưỡi và các tuyến nước bọt. Ở trẻ em, miệng còn nhỏ, niêm mạc miệng còn mềm"[5, tr.1: Cấu tạo khoang miệng 1.2: Mô hình răng 4 Theo BSCKII Vũ Anh Dũng thì: "răng là một vật thể cứng, chứa nhiều calci nằm trên xương hàm, riêng rẽ với nhau từng chiếc một nhưng lại sắp xếp và liên kết với nhau tạo nên hai cung răng (hàm trên và hàm dưới)" [2,tr. 9] Có thể nói răng là một bộ phận trong hệ thống nhai. Răng rất cứng, được xếp sát nhau hình vòng cung, răng có hai hàm.
Dùng để nhai, xé thức ăn. * Tổ chức học của răng Hình 1.3: Cấu tạo răng Theo giáo trình Răng hàm mặt của trường Y Dược Thái Bình thì: Răng cấu tạo gồm: Men răng, ngà răng, xương răng, tủy răng [2, tr. Men răng được bao bọc bởi toàn bộ mặt ngoài thân răng, có nguồn gốc ngoại bì. Men răng có độ dày không đều, nơi dày nhất là đỉnh núm răng (1,5mm), đến mặt nhai, mỏng nhất nơi tiếp nối là cổ răng.
Màu sắc: Bình thường men răng trong suốt nhưng men răng có thể thay đổi màu vàng nhạt, vàng sẫm, tím xanh.do một số yếu tố tác động lý học và hóa học. Hình dáng và bề dày của men được xác định từ trước khi mọc răng ra, trong đời sống men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ bào mòn theo tuổi. 5 Ngà răng là tổ chức cứng kéo dài từ thân răng đến chân răng và kết thúc ở lỗ chóp chân răng, có nguồn gốc chân bì. Màu :vàng nhạt đến vàng sẫm tùy theo tuổi, giới, chủng tộc,vùng miền.
Bề dày của ngà thay đổi theo độ tuổi, do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng hốc tủy. Kết cấu đặc trưng của ngà là các ống ngà.Giữa các ống ngà có sợi dây tome cùng dây thần kinh nên ngà mới được coi là đơn vị cảm giác của răng. Xương răng (cement) là mô liên kết không đồng nhất, khoáng hóa bao bọc chân răng. Nó neo giữ các bó sợi collagen của dây chằng quanh răng vào bề mặt chân răng.
Xương răng không chỉ giúp giữ răng vào xương ổ răng mà còn thực hiện chức năng thích nghi và sửa chữa Tủy răng là mô liên kết đặc biệt, giàu mạch máu nằm trong hốc tủy, đảm nhiệm chức năng sống của ngà răng và toàn bộ răng.Tủy bao gồm các thành phần tế bào (tế bào, nguyên bào, thành phần sợi, phân bào) mạch máu, mạch bạch huyết và thần kinh. Chức năng của tủy răng: Nuôi dưỡng các nguyên bào Ghi nhận cảm giác đau Bảo vệ, thay thế để kéo dài sự sống của răng nên tủy răng được coi là đơn vị sống của răng [2, tr. * Thời kì mọc răng Thời kỳ mọc răng sữa: Răng sữa mọc trong khoang miệng khoảng tháng thứ 6 sau khi sinh. Đến 2 hoặc 3 tuổi, trẻ em có đủ bộ răng sữa gồm 20 răng (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới.
Chân răng sữa tiêu dần đi khi đến tuổi thay, răng vĩnh viễn thay thế mọc dần lên thế vào vị trí răng sữa. Trẻ em từ 6 đến 11 tuổi hiện diện cả răng sữa và răng vĩnh viễn trên cùng hàm, gọi là răng hỗn hợp (denture mixte) [14, tr. 6 Ngoài ra, răng sữa đóng vai trò như miếng đệm duy trì khoảng cách thích hợp cho răng vĩnh viễn mọc lên. Nếu răng sữa bị mất một thời gian dài trước khi răng vĩnh viễn thay thế mọc lên, khoảng trống ở vị trí mất răng này sẽ dần dần bị thu hẹp hoặc đóng hẳn do các răng bên cạnh di chuyển vào vị trí đó.
Hậu quả là các răng vĩnh viễn không có đủ chỗ trống để mọc lên, do đó chúng có thể mọc lạc chỗ, hoặc ngầm trong xương [16]. Thời kì mọc răng vĩnh viễn: Mầm răng vĩnh viễn, một số được hình thành trong quá trình bào thai, từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 5, số còn lại hình thành sau khi sinh đến tháng thứ 9. Riêng mầm răng khôn lúc 4 tuổi. Răng vĩnh viễn được lắng đọng chất men, ngà (sự khoáng hóa) bắt đầu từ lúc sinh ra đến 6 - 7 tuổi, riêng mầm răng khôn lúc 10 tuổi.
Răng vĩnh viễn bắt đầu mọc để thay thế dần răng sữa khi trẻ được 6 tuổi. Khi trẻ 12 - 13 tuổi, tất cả răng sữa sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn. Lúc 17 - 21 tuổi có đủ bộ răng vĩnh viễn gồm 32 răng [14,tr. * Chức năng của răng Răng có chức năng trong ăn nhai: Răng cửa dùng để cắn thức ăn, răng nanh để xé thức ăn, răng hàm và tiền hàm dùng để nghiền nát thức ăn.
Răng có nhiệm vụ giúp cho hệ tiêu hóa được khoẻ mạnh, vì nếu thức ăn không được nhai nhuyển, kĩ, khi vào dạ dày sẽ khó tiêu hóa hơn, dễ đau bụng. Răng còn có chức năng trong phát âm Răng có chức năng thẩm mỹ răng đẹp sẽ làm nụ cười tươi hơn và tự tin hơn.4: Cấu tạo lưỡi Theo giáo trình sự phát triển thể chất trẻ em lưa tuổi mầm non: "Lưỡi là một khối cơ vân chắc rất mềm dẻo, nên có thể cử động tự do và rất linh hoạt để xáo trộn thức ăn. Trong lưỡi có nhiều mạch máu và các sợi thần kinh" [5, tr. Còn theo tác giả Lê Thanh Vân trong sinh lý học trẻ em cho biết: " lưỡi là một cơ quan hình trái xoan băng cơ, rất linh động.
Nó được bao ngoài bằng lớp màng nhầy, trong đó có nhiều mạch máu và dây thần kinh" [15, tr. Có thể hiểu là lưỡi là cơ quan trong miệng, nó rất mềm dẻo và linh động, dùng để trộn đảo thức ăn, bề mặt lưỡi có một lớp màng nhầy giúp cảm nhận được các mùi vị. 8 Cấu tạo của lưỡi: Nếp lưỡi nắp thanh quản, tuyến hạnh nhân khẩu cái, tam giác lưỡi, các gai dài, các gai nấm, gai chỉ, các tuyến hạnh nhân lưỡi. Chức năng của lưỡi là ở bề mặt của lưỡi được phủ một lớp màng nhầy có sen các gai vị giác để cảm nhận vị của thức ăn nên mặt trên của lưỡi nháp.
Lưỡi còn tham gia vào việc hình thành tiếng nói và phát âm. Lưỡi của trẻ sơ sinh tương đối lớn rộng và dầy, trên bề mặt lưỡi có nhiều gai vị giác hơn so với lưỡi của người lớn [5, tr.3 Các tuyến nước bọt Hình 1.5: Các tuyến nước bọt Theo tác giả Tạ thúy Lan trong giáo trình sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non: Trong khoang miệng có các tuyến tiếp dịch tiêu hóa chính là nước bọt. Các tuyến nước bọt có vai trò là tiết ra nước bọt để làm ướt, bôi trơn thức ăn và tiêu hóa thức ăn. Chúng bao gồm 3 tuyến chính: Đôi tuyến mang tai, đôi tuyến dưới hàm và đôi tuyến dưới lưỡi.
Đôi tuyến mang tai lớn nhất nó nằm cạnh mang tai, có một ống dẫn đổ ra mặt trong của má, tiết ra nước bọt chứa nhiều enzym tiêu hóa thức ăn nhưng lại chứa ít chất nhầy muxin để bôi trơn thức ăn. 9 Đôi tuyến dưới hàm nằm ở hõm dưới hàm và mỗi tuyến đều có ống dẫn đổ ra giữa nền miệng phía dưới lưỡi.Nước bọt của tuyến dưới hàm vừa chứa enzym tiêu hóa thức ăn, lại vừa chứa chất nhầy muxin để bôi trơn thức ăn. Đôi tuyến dưới lưỡi là đôi tuyến bé nhất, nằm ở trên cơ hàm và mỗi tuyến có nhiều ống đổ ra nền miệng. Nước bọt của tuyến dưới lưỡi chứa ít enzym tiêu hóa thức ăn nhưng lại chứa nhiều chất nhầy muxin.
Trong niêm mạc của khoang miệng còn có các tuyến nhỏ khác nằm rải rác, chúng tiết ra chất dịch đặc quánh tuy không nhiều nhưng lại chứa lizozim có tác dụng diệt khuẩn[5,tr. Chức năng khoang miệng Khoang miệng là phần đầu của hệ thống tiêu hóa có chức năng tiếp nhận và bắt đầu tiêu hóa thức ăn bằng cách nghiền nát thức ăn với hoạt động của hàm răng thành những miếng nhỏ vụ hơn rồi trộn với nước bọt. Miệng là nơi đầu tiên của ống tiêu hóa, tiếp nhận và nghiền xé thức ăn rồi đưa thức ăn đã được nghiền nhỏ xuống đoạn tiếp nối với thực quản. Chức năng của khoang miệng: nhai nuốt (cho thức ăn xuống thực quản); bài tiết nước bọt để giúp thức ăn dính vào nhau, trơn và dễ nuốt hơn.
Ngoài ra, các tuyến nước bọt trong miệng còn có thể bảo vệ niêm mạc miệng khỏi các tác nhân có hại trong thức ăn, chống nhiễm trùng và cung cấp enzyme tiêu háo, phân giải một phần tinh bột chính thành đường maltose. Miệng còn có vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra bởi hoạt động của cổ họng, hàm, lưỡi và môi để tạo ra âm thanh, phát âm. Bởi vì là cơ quan liên kết với đường tiêu hóa và hệ thống hô hấp nên miệng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiêu hóa và hô hấp của cơ thể. Miệng giúp khuôn mặt biểu lộ cảm xúc.
Nhai kĩ thức ăn sẽ làm nhỏ thức ăn đi qua thực quản sẽ giảm đi sự hoạt động của dạ dày. làm tăng chất dinh dưỡng. 10 Các tuyến nước bọt ở xung quanh khoang miệng nó làm nhão, ướt các thức ăn khô và lấy khỏi niêm mạc miệng những chất độc hại. Khi thức ăn được đưa vào miệng sẽ kích thích các dây thần kinh vị giác, cảm nhận rõ mùi vị thức ăn hơn.
Miệng không chỉ giữ vai trò quan trọng trong qua trình tiêu hóa; hô hấp của cơ thể mà còn là cơ quan phát âm, tạo ra âm thanh. Vì vậy, giữ gìn khoang miệng khỏe mạnh là vô cùng cần thiết. Bệnh lý răng miệng 1.Bệnh sâu răng 1. Khái niệm Theo BSCKI .Trần Xuân Hiền cho biết: "Sâu răng là bệnh ở tổ chức cứng của răng, nó làm tiêu dần lớp men răng, ngà răng để hình thành lỗ sâu răng và lỗ sâu không có khả năng tái tạo, hồi phục được"[3, tr.
Theo tác giả Phạm Minh Thảo thì: "Sâu răng là một bệnh ở tổ chức cứng của răng, đặc điểm là tiêu dần các chất vô cơ và hữu cơ ở men và ngà răng làm thành lỗ sâu".