MỞ ĐẦU 1. Nông sản trong quá trình bảo quản thường bị 1 số vi sinh vật gây hại, trong đó chủ yếu là vi sinh vật và côn trùng. Hoạt động mạnh mẽ của vi sinh vật gây tổn thất lớn cho nông sản ở giai đoạn sau thu hoạch, trong đó tổn thất do nấm mốc chiếm một phần đáng kể .Theo công bố của FAO, 25% đến 50% nông sản trên toàn thế giới nhiễm độc tố. Qua nghiên cứu cho thấy, ngô, lạc và cà phê thường nhiễm các loại nấm mốc như Aspergillus spp; Fusarium spp, Penicillium spp, Rhizopus spp, A.Ngoài việc gây tổn thất về lượng cho nông sản, còn sinh độc tố đặc biệt nguy hiểm với con người và động vật kinh tế.
Parasiticus là 2 loài có khả năng sinh độc tố aflatoxin mạnh nhất, độc tố này được tích tụ trong gan người, động vật và không bị phân hủy bởi nhiệt độ cao. viridicatum có khả năng sinh độc tố A. Ngoài ra, 1 số loại nấm Fusanium có khả năng sinh độc tố trichothecen và fumonisin. Hàm lượng aflatoxin nhiễm nhiều trên các mẫu ngô, lạc và cà phê đã vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế.
Ở nước ta đã và đang sử dụng khoảng 200 loại thuốc trừ sâu, 83 loại thuốc trừ nấm, 52 loại thuốc trừ cỏ…Những hóa chất nằm trong danh mục cho phép được sử dụng trong bảo quản nông sản là nhóm pyvethroit, malathion, sumithion, DDVP, acetelic 2D, cacbon dioxit, monocrotophos, cypermethrin. Tuy nhiễn, theo kiểm tra của các cơ quan chức năng hóa chất này thường được sử dụng vượt quá lượng cho phép nhiều lần (http:// www.Việc sử dụng thuốc hóa học không hợp lý, sử dụng lâu dài sẽ kéo theo các vấn đề như: ảnh hưởng tới sức khỏe con người và động vật, tăng khả năng hình thành tính kháng thuốc của sâu bệnh, tiêu diệt hệ thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh học, gây hậu quả xấu tới môi trường. Các nhà khoa học trên thế giới đã nỗ lực nghiên cứu để tạo ra giống cây chuyển gen để kháng bệnh, nhưng việc tìm kiếm công nghệ sản xuất các chất sinh học không độc hại để phòng trừ nấm sinh độc tố trên cây trồng và hạt nông sản vẫn là phương pháp kiểm soát hàng đầu. SRE là một hợp chất sinh học có phổ diệt nấm rộng và được ứng dụng như là một loại thuốc bảo quản nông sản và trái cây.
SRE có khả năng diệt đến 95% trong SV: Vũ Thị Nhàn 1 Lớp: KSCNSH - 1103 việc phòng chống một số loại nấm bệnh và nấm sinh độc tố như Aspergillus spp, Fusarium spp, Penicillium spp, trong đó điển hình là A. Ngoài ra có khả năng tiêu diệt một số chủng vi sinh vật gây bệnh như B.venevia…ở nước ta việc nghiên cứu sản xuất SRE để bào quản còn là vấn đề mới mẻ. Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch là đơn vị đầu tiên tiến hành đề tài nghiên cứu cấp nhà nước “ Nghiên cứu công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học syringomycin E (SRE) và Rhamnolipid (RL) diệt nấm để bảo quản một số trái cây và hạt nông sản.” Trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ”Tuyển chọn chủng Pseudomonas syringae có khả năng sinh syringomycin E” 2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu. - Tìm ra 1-2 chủng Pseudomonas syringae có khả năng sinh tổng hợp SRE cao. - Xác định tên loài chủng Pseudomonas PS 120 bằng phân tích trình tự gen 16S rRNA 2. Nội dung nghiên cứu.
- Phân lập chủng Pseudomonas sp. từ các mẫu quả và lá - Khảo sát và tuyển chọn các chủng Pseudomonas sp. có khả năng sinh syringomycin E từ các chủng phân lập được. - Nghiên cứu đặc điểm của chủng tuyển chọn dựa theo khóa phân loại Bergey.
- Định danh chủng Pseudomonas tuyển chọn bằng phương pháp sinh học phân tử. + Tách DNA tổng số của Pseudomonas PS 120 + Khuếch đại gen mã hóa 16S rRNA bằng kĩ thuật PCR + Đọc trình tự đoạn gen chứa vùng gen đặc hiệu + So sánh trình tự đoạn DNA của chủng nghiên cứu bằng chương trình Nucleotide Blast SV: Vũ Thị Nhàn 2 Lớp: KSCNSH - 1103 PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về SRE Syringomycin E (SRE) là một trong những chất được nghiên cứu nhiều nhất trong họ lipodepsipeptide được sinh tổng hợp bởi một số chủng vi khuẩn thuộc chi Pseudomonas đặc biệt là các chủng Pseudomonas syringae pv. Cấu trúc phân tử SRE là một peptit vòng, được tạo thành bởi 9 amino axit và hydroxy axit béo chứa 12 nguyên tử C ở dạng amide (A.
Segre et al. Công thức phân tử của SRE: C53H85ClN14O17 , khối lượng phân tử M= 1225,78 thể hiện ở hình 1.Công thức cấu tạo của Syringomycin E Syringomycin E đã được chứng minh đóng vai trò quan trọng trong sự tương tác vi khuẩn- thực vật bởi khả năng làm tăng tính độc của vi khuẩn trong thử nghiệm in vitro (N. Iacobellis et al, 1992). Bên cạnh đó, SRE có đặc điểm nổi bật là khả năng diệt nấm, đặc tính này phụ thuộc vào sự có mặt của Cl trong đầu C của cấu trúc protein của SRE (I.
Grgurina et al, 1994). Tính chất này được sử dụng là một trong những phương pháp diệt nấm bằng biện pháp sinh học với các chủng nấm như Geotrichum candidum, SV: Vũ Thị Nhàn 3 Lớp: KSCNSH - 1103 Rhodotorula pilimance, Botrytis cinerea, Fusarium, Pythium ultimum, Rhizoctonia, Greeneria uvicola ,Aspergillus japonicus, Mucor sp., Curvularia brachyspora, Nigrospora sphaerica, Penicillium thomii và Penicillium sclerotiorum. Là những loài thường gây thối hỏng quả sau thu hoạch. Độc tính của SRE đối với tế bào HeLa (dòng tế bào nghiên cứu ở người) thường gấp 20 lần nồng độ SRE để diệt 95% các nấm gây bệnh.
SRE có khả năng diệt bào tử nấm đã nảy mầm của Aspergillus sp.và Fusarium sp. hiệu quả hơn các peptide khác như cecropin A, cecropin B và dermaseptin. Kết quả thử độc tính trên chuột và độc tính với tế bào đã chỉ ra rằng SRE có tiềm năng phát triển thành sản phẩm thương mại. Do SRE được sinh tổng hợp bởi vi khuẩn Pseudomonas và được tiết ra trong dịch nuôi.
Vì vậy để tách chiết và thu nhận kháng sinh SRE từ dịch lên men, nguyên tắc quan trọng đó là dựa vào các tính chất của chất kháng sinh được tạo thành sau lên men gồm có: i) tính chất hóa học của chất kháng sinh ở dạng chất bazơ yếu, axit yếu, chất trung hòa điện tích, dạng phân cực hoặc không phân cực; ii) tính chất vật lý của kháng sinh gồm: tính tan của kháng sinh, độ bền pH, độ bền nhiệt, độ bền trong các loại dung môi khác nhau. Từ các tính chất của kháng sinh để có thể khảo sát và áp dụng các phương pháp thích hợp thu nhận kháng sinh với hiệu suất cao nhất (Richard và cộng sự 1998). Cấu tạo và tính chất của SRE SRE có khối lượng phân tử là 1240Kda. Cấu trúc của SRE gồm một axit béo mạch dài, không phân nhánh và chín axit amin khép vòng, ưa nước, tích điện dương.
Trình tự axit amin của SRE là: Ser-Ser-Dab-Dab-Arg-Phe-Dhb-4(Cl)Thr- 3(OH)Asp, được khép vòng tại nhóm β-carboxy của đầu cùng C và nhóm OH của đầu cùng N nhờ quá trình acetyl hóa được xúc tác bởi axit 3- hydroxydecanoic. Syringomycin A1 và G khác với SRE ở axit tương ứng là 3- hydroxydecanoic và 3- hydroxytetradecanoic. SV: Vũ Thị Nhàn 4 Lớp: KSCNSH - 1103 Hình 1. Cấu trúc của SRE SRE tan trong nước và tan trong cồn nồng độ thấp, không tan trong ether và chloroform.
Điểm đẳng điện ở pH 7. Hoạt tính kháng sinh của SRE không bền trong dung dịch kiềm, đặc biệt tại pH 8 và bền trong 1N HCl, bền ở nhiệt độ cao, không bị ảnh hưởng bởi tia cực tím. SRE có hoạt tính kháng nhiều loại nấm mốc và nấm men. Khả năng kháng nấm men của SR tốt hơn nấm mốc.
Tuy nhiên, chúng không có khả năng ức chế vi khuẩn (Sinden et al. Cơ chế tác động của Syringomycin E tới vi sinh vật gây bệnh Các nghiên cứu gần đây tập trung nhiều vào cơ chế kháng nấm của các lipodepsinonapeptid mạch vòng nhỏ. Cấu trúc lipopeptide amphipathic của SRE thúc đẩy sự tương tác với màng nguyên sinh chất. SRE làm tăng sự thu nhận tetraphenylphosphonium nên dẫn đến tăng điện thế màng.
Điều này gây nhiều biến đổi như thêm H+ và mất K+ dẫn đến tế bào bị chết. Trong khi các nghiên cứu khác chỉ ra rằng việc mất K+ và thêm H+ làm thay đổi pH gradient màng nguyên sinh chất. Cùng với sự trao đổi của K+ và H+, SRE cũng kích thích sự xâm nhập của Ca2+. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu tập trung vào mô tả tính chất và sự hình thành kênh của SRE bằng màng lipid nhân tạo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy SRE tạo nên kênh phụ thuộc vào điện thế trong màng hai lớp nhân tạo. SRE tạo nên các lỗ dò (bán kính 1nm) không đặc hiệu mà cation hóa trị 1 và 2 đều thấm qua được. Có ít nhất 6 phân tử SRE tham gia vào quá trình hình thành kênh (Hutchison et al., 1995; Feigin et al., 1996; Hutchison và Goss, 1997). Ostroumova cho rằng các kênh SRE lớn hơn tại vị trí trans với bán kính 0,5-0,9 nm và 0,25-0,35 nm tại vị trí cis, điều đó chứng minh rằng kênh SRE là không đối xứng (Ostroumova et al.
SRE tạo ra hai loại kênh nhỏ và lớn khác nhau về độ dẫn điện từ 6 đến 7 lần SV: Vũ Thị Nhàn 5 Lớp: KSCNSH - 1103 (Schagina et al., 1998; Kaulin et al. Các kênh SRE có khả năng đóng mở đồng thời giúp tăng đáng kể độ dẫn. Tuy nhiên, các kênh này bị bất hoạt bởi nhiệt độ (Schagina et al., 1998; Malev et al. Cơ chế sinh tổng hợp SRE Theo Mekki (2009), trong các lipodepsipeptides thì sinh tổng hợp SRE được nghiên cứu sâu nhất.
Người ta đã tách dòng gen syringomycin (syr) từ chủng P. Gen này có kích thước là 37kb, mã hóa cho các protein (SyrB1, SyrB2, SyrC và SyrE) liên quan tới quá trình sinh tổng hợp SRE. Gen syrE mã hóa cho synthetase có khối lượng 1039 kDa chứa 8 module hoạt tính axit amin. Gen syrB chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong sinh tổng hợp SRE.
SyrB1 là protein có khối lượng 68 kDa mang vùng adenyl hóa và thio hóa. SyrB2 là protein có khối lượng 35 kDa. Gen syrC nằm giữa syrB và syrE, mã hóa cho protein có khối lượng 48 kDa tương tự như một vài protein chứa motif enzym thioesterase. Gen syrD mã hóa cho protein có khối lượng 63 kDa tham gia vào quá trình tiết SRE.
Bên cạnh đó, gen syr còn tổng hợp protein SyrP có khối lượng 40kDa.