CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ LỰA CHỌN BÀI TẬP VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG. Day học phải hết sức coi trọng hoat động của người học “ Cái đứng hàng đầu trong xây dựng kiến thức là hoạt động trí tuệ của chính người học”. Trong dạy học về bài tập vật lí, giáo viên phải tổ chức , chỉ đạo hoạt động giải bài tập tự lực của học sinh. Để việc dạy học mang lại hiệu quả như mong muốn thì không thể không nghiên cứu hoạt động của chủ thể chiếm lĩnh kiến thức, đó là học sinh.
Muốn vậy giáo viên phải hiểu rõ học sinh nghĩ gì, hình dung ra sao, có cách hiểu như thế nào đối với một sự vật, một hiện tượng liên quan đến vấn dé nhận thức được đặt ra. Qua đó, giáo viên mới phát hiện được đâu là những khó khăn trở ngại đối với nhận thức của học sinh, việc dạy học mới tạo điều kiện cho học sinh tự lực vươn lên trên quá trình chiếm lĩnh kiến thức khoa học. Chính vì vậy giáo viên cần phải thông qua nội dung các bài tập giao cho học sinh, đặc biệt là thông qua quá trình hướng dẫn hoạt động giải bài tập của học sinh để phát hiện những khó khăn chủ yếu và giúp học sinh vượt qua chúng, để làm bộc lộ và khắc phục những sai lắm phổ biến của học sinh. Vì vậy “ Sự định hướng hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học khoa học phải phù hợp với tâm lý học nhận thức và với khoa học luận bộ môn ".
Day học được coi là tốt nếu nó đi trước sự phát triển, kéo theo xự phát triển. Vận dụng lý thuyết này, trong quá trình dạy học sinh giải bài tập chúng ta cần phải lưu ý những điểm sau: + Việc lựa chọn các bài tập được sắp xếp một cách hệ thống bao gồm những bài tập vừa sức và cả những bài tập nâng cao ding cho học sinh lớp chọn. + Phương pháp hướng dẫn học sinh giải các bài tập vật lý không chỉ nhằm mục đích giải được bài tập mà quan trọng ở chỗ rèn cho học sinh phương pháp tư duy, suy nghĩ để giải quyết vấn đề. Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí được hiểu là môt vấn dé được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết bằng những suy luận logic.
Những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và cúc phương pháp vật lí. Hiểu theo nghĩa rộng thì mỗi một vấn để xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bai tập đối với học sinh. Sự tư duy, định hướng một cách tích cực luôn luôn là việc giải bài tập.( 10: Trang 7) Bài tập vật lí là một bộ phận cấu thành, không thể tách rời của quá trình dạy học vật lí vì tác đụng to lớn của nó trong việc thực hiện các nhiệm vụ của quá trình này. Trong quá trình dạy học vật lí, các bài tập vật lí có tẩm quan trọng đặc biệt.
Chúng được sử dung theo những mục đích khiic nhau. SVTH: PHAM THỊ HỒNG HANH Trang: 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: PHAM THE DAN 1. Mục đích sử dụng bài tập vật Ii trong quá trình dạy học 1. Bài tập vật lí có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mà khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và ving chắc Chẳng hạn như theo SGK lớp 10, khi học bài “ Công của trong lực”, đặc điểm về công của trọng lực được rút ra từ bài tập tính công của trọng lực của một vật m trong hai trường hợp là: + Vật rơi tự do từ độ cao h, xuống độ cao h; + Vật trượt không ma sát từ đỉnh một mặt phẳng nghiêng có độ cao h = hy ~ hyp.
Từ hai bài tập này học sinh vận dụng công thức tính công đã biết để tìm ra công của trọng lực trong hai trường hợp và rút ra được kiến thức mới đó là đặc điểm về công cuả trọng lực 1. Bài tập vật lí là phương tiện rèn luyện cho hoc sinh khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ lý thuyết và thực tế. Thí dụ: Khi đã học về công và công suất có thể cho học sinh làm bài tập sau: Một người muốn làm cho thùng hàng cho trượt trên mặt sàn nằm ngang từ A đến B có thể thực hiện một trong hai cách sau: a. Đẩy từ phía sau với lực F xiên xuống hợp với phương ngang một góc œ b.
Kéo từ phía dui cũng bằng lực # hướng lên hợp với phương nằm ngang một góc œ Hỏi trong trường hợp nào có lợi hơn? Ít tốn sức hơn? Bài tập này để cập tới một công việc rất phổ biến hàng ngày khi các em học sinh cẩn di chuyển một vật nặng trên mặt sàn nằm ngang, sử dụng kiến thức đã học các em sẽ thấy rõ được cách thực hiện công việc ấy một cách hợp lý, ít tốn sức hơn. Bài tập vật lí là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện tư duy , bổi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh bởi vì giải bài tập là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong khi giải bài tập học sinh phải phân tích điểu kiện trong để bài, tự xây dựng những lập luận, thực hiện những tính toán, khi cẩn thiết thì phải tiến hành các thí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luận của mình, trong điểu kiện đó tư duy logic, tư đuy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực làm việc dộc lập của học sinh được nâng cao, 1.4, Bài tập vật lí là một phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách sinh động và có hiệu quả. Khi giải các bài tập, học sinh phải nhớ lại các công thức, định luật, kiến thức đã học, có khi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức đã hoc trong cả một chương, một phan, do đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn, nấm vững hơn những kiến thức đã học.
SVTH: PHAM THỊ HỒNG HANH Trang: 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: PHAM THẾ DAN 1. Thông qua việc giải bai tập có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt như tỉnh thần tự lập, tính cẩn thân, tính kiên trì, tinh thần vượt khó. Bài tập vật lí là một phương tiện để kiểm tra, dánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh một cách chính xác. Phân loại bài tập vật lí Người ta phân loại bài tập vật lí theo nhiều đặc điểm: theo nội dung , theo phương thức cho điều kiện và theo phương pháp giải, theo yêu cau định tính hay định lượng của việc nghiên cứu vấn dé, theo yêu cầu luyện tập kỹ năng hay phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong quá trình day học.
Có một số cách phân loại như sau: 1. Phân loại theo nội dung: - Người ta dựa vào nội dung chia các bài tập theo cúc để tài của tài liệu vật lí. Sự phân chia như vậy có tính chất quy ước vì bài tập có thể để cập tới những kiến thức của những phần khác nhau trong chương trình vật lý. - Theo nội dung, người ta còn phân biệt các bài tập có nội dung trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể.
Các bài tập trừu tượng giúp cho học sinh dé dàng nhận ra các kiến thức vật lý cần sử dụng để giải, do đó những bài tập đơn giản thường được dùng để cho học sinh tập dượt áp dụng các công thức đã học. Các bài tập có nội dung cụ thể có tác dụng giúp cho học sinh phân tích các hiện tượng thực tế, làm rõ bản chất vật lí và do đó có thể vận dụng các kiến thức vật lí cần thiết để giải bài tập đó. - Dựa vào nội dung, người ta còn phân biệt các bài tậi› có nội dung kĩ thuật tổng hợp, những bài tập có nội dung lịch sử và bài tập vui. Theo đặc điểm của việc nghiên cúu vấn dé trong bài tập, có thể phân chia các bài tập thành: - Các bài tập định tính ( còn gọi là bài tập câu hỏi huy bài tập logic): loại bài tập này giúp cho học sinh nắm vững bản chất vật lý của các vấn để học tập.
Nó có tác dụng chuẩn bị cho học sinh giải các bài tập tính toán phức tạp vì nó rèn luyện tư duy logic và tập cho học sinh biết phan tích bản chất vật lý của hiện tượng. - Các bài tập định lượng: khi giải các bài tập loại này, học sinh phải tính toán để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và nhận được câu trả lời đưới dạng công thức hoặc một số. Theo yêu cầu luyện tập kỹ năng, phát triển tt duy học sinh trong quá trình dạy học, có thểphân biệt các bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo: - Các bài tập luyện tập là các bài tập mà việc giải chúng không đồi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh, chủ yếu chỉ yêu cầu học sinh nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn. SVTH: PHAM THỊ HONG HANH Trang: 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: PHAM THE DAN - Các bài tập sáng tao khác với các bài tập luyện tip là ở chỗ điều kiện trong bài tập sáng tạo che dấu các ungôriL.
bài tập sáng tạo là những bài tập không thể quy về angôrit chung hoặc angôrit giải bài tập mới mẻ đối với người giải. Radumôxki phân biệt hai kiểu bài tập vắng tạo Lương ứng với hai pha quan trọng trong chu trình sáng tạo khoa học vật li: “ Sự chuyển từ các sự kiện sang xây dựng mô hình wu tượng và ngược lại. từ hệ qui lý thuyết sang thực nghiệm, sang những sự kiện thực tế mới ".(10: Tran+ 17) Kiểu thứ nhất được gọi là bài tập nghiên cứu trả lời câu hỏi “Tại sao ?”, trong đó cẩn giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở mô hình trừu tượng thích hợp rút ra từ lý thuyết vật lý. Kiểu thứ hai của bài tập sáng tao được gọi là bài tập thiết kế, trả lới câu hỏi: "Làm thế nào?”, trong đó đòi hỏi thu được hiệu quả thực tế phù hợp với mô hình trừu tượng đã cho.
Theo cách thể hiện bài tập, người ta chia các bài tập thành : ~ Bài tập bài khoá. - Bài tập lựa chọn câu trả lời đúng nhất tron: các câu trả lời cho sẩn (Test).