đặt vấn đề, tưởng tượng các mối liên quan, đặt giả thuyết và so sánh, đánh giá các giả thuyết, lựa chọn giả thuyết thích hợp, rồi tiếp đó dùng các kiến thức đã có cùng với các giả thuyết mới để đề xuất các lời giải cho bài toán, đánh giá các lời giải cho đến khi tìm được lời giải thoả đáng, có thể chấp nhận được. Như vậy, "giải quyết vấn đề" thực tế là một quá trình sáng tạo của người học, người học phải tự mình vận dụng các năng lực trí tuệ của mình để liên tục tưởng tượng, tìm kiếm, sáng tạo,. để rồi có được cái cảm giác là tự mình sáng tạo ra cái kiến thức mà mình cần có. Mối quan hệ giữa tự học và tƣ duy sáng tạo Qua những sáng tạo được thể hiện từ thời Thomas Edison đến thời Bill Gates, giới khoa học kỹ thuật ngày càng nhận thấy giữa sáng tạo và việc tự học có một mối liên hệ nhân quả.
Tạp chí Science et Vie (Khoa s ) đã viết: "Ai tự học mạnh nhất, người đó tích lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất. Ngược lại, ai có nhu cầu sáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự học cao hơn". Cố Giáo sư Tạ Quang Bửu (nguyên bộ trưởng Bộ Đại học và chuyên nghiệp) trong một buổi nói chuyện trước sinh viên Bách khoa Hà Nội năm 1970 đã nhấn mạnh: "Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo. Ai giỏi tự học khi đang ở trường, người đó sẽ tiến xa".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Theo các chuyên gia giáo dục và khoa học của Tổ chức UNESCO, kỹ năng tự học và giá trị biểu hiện của việc tự học là những thước đo của tâm lý sáng tạo và sản phẩm sáng tạo. Bước vào thế kỷ 21, kỹ năng đó sẽ tồn tại như một trong những kỹ năng sống mà con người không thể thiếu, đồng thời giá trị đó giúp cho mỗi cá nhân tự khẳng định chính mình trong xu thế nhảy vọt của thời đại thông tin. Qua đó ta thấy, nhau: sẽ không có sáng tạo nếu không có tự học tích cực; sẽ không thể tự học hiệu quả nếu không mài sắc trí sáng tạo. Tự học để khám phá nhận thức và khai phá sáng tạo.
Sáng tạo để khẳng định sự tìm tòi siêu thoát trong tự học. Như vậy tư duy sáng tạo của học sinh là một phẩm chất trí tuệ có mối liên hệ chặt chẽ với các phẩm chất trí tuệ khác như tính tích cực, tính tự lực, với hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh. Trong nhà trường, nó được hình thành và phát triển trong hoạt động thực tế, trong học tập, nghiên cứu khoa học và trong quá trình giải quyết vấn đề của cuộc sống. Các biện pháp hình thành và phát huy tính sáng tạo của HS 1.
Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HS trên con đường HĐ nhận thức, biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới. Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho HĐ sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác biện chứng nhạy bén, phong phú. Trong nhiều trường hợp, GV có thể giới thiệu cho HS kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học. Bất kì ở đâu và bất cứ lúc nào, sự sáng tạo chỉ có thể xảy ra trong khi GQVĐ, nghĩa là trong khi giải quyết nhưng trở ngại, vướng mắc trên con đường nhận thức.
Làm bài tập sáng tạo Ở trên, ta đã xem xét việc rèn luyện tính sáng tạo cho HS trong quá trình xây dựng kiến thức mới. Ngoài ra, trong dạy học vật lí, người ta còn xây dựng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ những loại bài tập riêng vì mục đích này và được gọi là bài tập sáng tạo. Trong loại bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, HS bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách lôgíc từ những kiến thức đã học. Có hai loại bài tập sáng tạo là bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu.
Trong bài tập thiết kế đòi hỏi HS phải đề xuất một thiết bị để thỏa mãn yên cầu tạo ra một hiện tượng vật lí nào đó. Trong bài tập nghiên cứu yêu cầu HS nghiên cứu để giải thích một hiện tượng nào đó mới gặp. Hƣớng dẫn học sinh tự học T ph ọ. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1969), đã nói: “Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn… mà là phương pháp suy nghĩ.
Trong việc tự học người học phải xác định rõ mục tiêu có thái độ thích hợp với các tình huống cụ thể; phải chú ý đến các đặc điểm của việc tự học và phải biết xử lí thông tin. Các yếu tố ấy có quan hệ qua lại và tác động đến nhau. Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là kiểu dạy học mà GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác.
Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phương pháp dạy học, nó còn đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin được trình bày vấn đề này sâu hơn ở mục tiếp theo. Cách kiểm tra đánh giá tính sáng tạo của học sinh Năng lực sáng tạo cũng như bất kì một loại tư duy nào cũng cần rèn luyện mới có được. Vì vậy, trách nhiệm của GV là tìm ra các biện pháp để rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh ngay từ khi cắp sách đến trường.
Để kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của HS, GV cần dựa vào những biểu hiện của năng lực sáng tạo, các phương pháp cụ thể như sau: + Sử dụng phối hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau như viết, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, thí nghiệm… + Sử dụng các câu hỏi đòi hỏi học sinh phải suy luận, bài tập có yêu cầu tổng hợp, khái quát hoá, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, + Chú ý kiểm tra tính linh hoạt, tháo vát trong thực hành thí nghiệm. + Tăng cường sử dụng các bài tập nhận thức đòi hỏi mở (bài tập sáng tạo) và tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất. Quan niệm về dạy và học. Quá trình dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương tác thống nhất, biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học: Giáo viên, học sinh và tài liệu hoạt động dạy.1 Bản chất của hoạt động dạy trong quan điểm dạy học hiện đại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Theo giáo sư Phạm Hữu Tòng: Bản chất của hoạt động dạy là hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) và do đó, trong dạy học giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của người học để qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình.2 Bản chất của hoạt động học trong quan điểm dạy học hiện đại Theo quan điểm dạy học hiện đại: Sự học phải là quá trình hình thành và phát triển của các dạng thức hành động xác định của người học, đó là sự thích ứng của chủ thể với tình huống học tập thích đáng thông qua sự đồng hoá (hiểu được, làm được) và sự điều tiết (có sự biến đổi về nhận thức của bản thân), qua đó người học phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách của bản thân.
Sự học là một hoạt động có ý thức của người học bao gồm một hệ thống các thành tố có quan hệ và tác động qua lại: Một bên là động cơ, mục đích, phương tiện, còn bên kia là hoạt động, hành động và thao tác. [2] Hoạt động Động cơ Hành động Mục đích Thao tác Điều kiện phương tiện Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc tâm lý của hoạt động học Hoạt động của chủ thể tồn tại tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó. Hoạt động có đối tượng cấu thành từ các hoạt động, hành động gồm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Mặt khác hoạt động bao giờ cũng có mục đích, điều kiện và phương tiện cụ thể.
Mỗi hành động diễn ra theo các pha: định hướng, chấp hành và kiểm tra. Cơ sở định hướng của hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động. Như vậy sự học nói chung là sự thích ứng của người học đối với những tình huống thích đáng làm nảy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở người học những năng lực thể chất tinh thần và nhân cách của cá nhân. Sự học nói riêng, có chất lượng một tri thức khoa học mới phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng.
Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới với tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới. Đồng thời, đó là quá trình làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của người học. Sự tương tác trong quan hệ dạy và học trong quan điểm dạy học hiện đại. Trong bất kì quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng dạy học.
Đối tượng và nội dung hoạt động dạy học có nhiều điểm khác với các loại lao động khác. Hoạt động dạy được quy về các hoạt động định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên các hoạt động học tập của người học. Đó chính là bản chất của dạy học hiện đại. Các cung bậc hoạt động của người dạy tùy thuộc vào khả năng người học.