Chương 1: Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng thiết bị thí nghiệm trong dạy học vật lí ở trƣờng phổ thông. - Chương 2: Xây dựng thiết bị thí nghiệm sóng âm để sử dụng trong dạy học vật lí lớp 12. - Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 4 c PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1.
Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học vật lí 1. Tính tích cực học tập của học sinh Tính tích cực nhận thức là biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tƣơng tác với đối tƣợng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ nâng cao các chức năng tâm lí (nhƣ hứng thú, chú ý, ý chí.) nhằm đạt đƣợc mục đích đặt ra với mức độ nâng cao [5]. Học tập là một trƣờng hợp riêng của nhận thức "Một sự nhận thức đã đƣợc làm cho dễ dàng đi và đƣợc thực hiện dƣới sự chỉ đạo của GV" (P. Nói tới tích cực học tập thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức, mà tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS, đặc trƣng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài ngƣời chƣa biết về bản chất, quy luật của các hiện tƣợng khách quan mà nhằm lĩnh hội tri thức mà loài ngƣời đã tích cực xây dựng đƣợc. Tuy nhiên trong học tập HS cũng phải "khám phá" ra những điều mới đối với bản thân mình, dù đó chỉ là khám phá những điều mà loài ngƣời đã biết. Con ngƣời chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành đƣợc bằng hoạt động của bản thân. HS sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ, đó là chƣa nói lên tới một trình độ nhất định, thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và ngƣời học cũng làm ra kiến thức mới cho nhân loại.
Những biểu hiện của tính tích cực học tập của học sinh Trong quá trình học tập, tính tích cực của HS đƣợc bộc lộ qua rất nhiều biểu hiện khác nhau. Dựa trên việc DHPH và GQVĐ phỏng theo con đƣờng nghiên cứu vật lí, chúng tôi hệ thống các biểu hiện đó theo 3 giai đoạn và ở mỗi giai đoạn lại có nhiều dấu hiệu khác nhau. Cụ thể là: - Giai đoạn phát hiện vấn đề nghiên cứu: + Quan tâm đến vấn đề cần giải quyết. + Nhận thức đƣợc vấn đề trong tình huống đặt ra.
Vui vẻ, thoải mái và tự tin nhận nhiệm + Sẵn sàng cho việc thực hiện nhiệm vụ. + Tham gia tích cực trong việc phát hiện hiện tƣợng, quá trình vật lí mới. Xác định vấn đề mới cần nghiên cứu. + Phát biểu vấn đề mới cần nghiên cứu.
- Giai đoạn thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề: + Háo hức thực hiện nhiệm vụ. + Xoay trở, lật đi lật lại vấn đề để tìm giải pháp thực hiện. + Thực hiện giải pháp bằng các thao tác tƣ duy: so sánh, phân tích. các dữ kiện, thông số của bài toán.
+ Tham gia đề xuất, lựa chọn giải pháp GQVĐ. Tham gia xây dựng giả thuyết. + Đề xuất phƣơng án TN, lên kế hoạch tiến hành TN. + Chủ động thực hiện TN theo các phƣơng án, thu thập và xử lí dữ liệu.
Giúp đỡ bạn bè, có thái độ hợp tác cùng thực hiện nhiệm vụ. + Nói ra đƣợc các ý tƣởng cho việc thực hiện nhiệm vụ. Tham gia trao đổi, tranh luận khi GQVĐ. - Giai đoạn tổng kết, trình bày kết quả, vận dụng kiến thức: + Chủ động trình bày, bảo vệ kết quả nghiên cứu.
+ Tiếp thu ý kiến đóng góp đúng đắn và thay đổi quan điểm sai của bản thân cũng nhƣ góp ý kiến cho những sai lầm của bạn bè. 6 c + Tham gia đề xuất phạm vi áp dụng, liên hệ kiến thức vào thực tiễn. Các biểu hiện của tính tích cực xét trên các khía cạnh đã nêu sẽ đƣợc chúng tôi sử dụng để đánh giá hiệu quả của các tiến trình dạy học kiến thức “Sóng âm” đối với việc phát triển tính tích cực học tập của HS [11]. Những tiêu chí đánh giá tính tích cực học tập của học sinh Ngoài những biểu hiện về tính tích cực đƣợc trình bày ở trên, việc đánh giá tính tích cực học tập (sau một giờ học, một quá trình học) còn dựa vào các tiêu chí sau: [22] - Đánh giá mức độ nắm vững kiến thức kĩ năng theo 4 mức độ: 1.
Sự ghi nhớ (nhớ, tái hiện, nhận biết). Có khả năng vận dụng, vận dụng tri thức vào các tình huống quen thuộc và không quen thuộc, giải quyết các vấn đề do thực tế đặt ra. Sáng tạo, có cách giải quyết độc đáo, nghĩ ra cách làm mới. - Mức độ hoạt động của HS trong giờ học: 1.
Thụ động hoàn toàn (ghi chép, lơ đễnh…). Nhận biết không chủ định (không phân biệt đúng sai, luôn đồng ý với GV). Nhận biết có chủ định, (tiếp thu có chọn lọc, ghi theo ý riêng của mình…). Tích cực tìm tòi suy nghĩ tham gia tiếp nhận vấn đề, GQVĐ và kết luận vấn đề, vận dụng kiến thức (Lƣợng hóa bằng số % HS phát biểu xây dựng bài).
- Sự tập trung chú ý của HS trong tiến trình bài học: 1. Chú ý giả tạo. Chăm chú theo dõi, quan sát. Hoàn toàn chú ý.
Tập trung chú ý cao độ (hăng hái phát biểu, tập trung nghe nhìn, có sự hứng thú…). 7 c - Hứng thú nhận thức của HS: 1. Không thích. Bình thƣờng.
Rất thích. - Lƣợng thời gian duy trì trạng thái tích cực của HS trong lớp: 1. Các biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh Các biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của HS trong giờ lên lớp đƣợc phản ánh trong các công trình xƣa và nay có thể tóm tắt nhƣ sau: [11], [22]. - Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
- Kích thích hứng thú nội dung: Nội dung dạy học phải mới, nhƣng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tƣơng lai. Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS. - Phải dùng các phƣơng pháp đa dạng: nêu vấn đề, TN, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau. - Kiến thức phải đƣợc trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ.
- Sử dụng phối hợp các phƣơng tiện dạy học, tăng cƣờng sử dụng đa phƣơng tiện. - Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong phòng TN. Các hình thức đƣợc sử dụng linh hoạt tùy thuộc vào đối tƣợng HS và nội dung kiến thức nghiên cứu. - Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới.
Đƣa HS tham gia vào quá trình thảo luận đánh giá. Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí 1. Khái niệm năng lực sáng tạo Theo Bách khoa toàn thƣ Liên Xô “Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”, hay Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 3): Sáng tạo là “Hoạt động tạo ra cái mới”. Nhƣ vậy có thể hiểu NLST là khả năng tạo ra những giá trị mới về tinh thần hay vật chất, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới.
NLST phản ánh hoạt đông lí tính của con ngƣời, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ loài ngƣời. NLST biểu hiện trình độ tƣ duy ở mức độ cao của con ngƣời [10]. Những biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh Kiến thức vật lí ở trƣờng phổ thông là những kiến thức đã đƣợc loài ngƣời khẳng định nhƣng nó luôn mới mẻ đối với HS. Việc nghiên cứu kiến thức sẽ thƣờng xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi HS phải đƣa ra những ý kiến mới, phƣơng pháp mới đối với chính bản thân họ.
Từ đó, NLST của HS sẽ đƣợc bộc lộ và phát triển. Đối với quá trình nhận thức của HS theo kiểu DHPH và GQVĐ, có thể hệ thống biểu hiện của NLST nhƣ sau: [22] - Phát hiện ra vấn đề cần giải quyết từ tình huống xuất phát. - Suy đoán đƣợc một hoặc nhiều giải pháp GQVĐ bằng suy luận lí thuyết hoặc bằng thực nghiệm: + Đối với cách GQVĐ bằng suy luận lí thuyết: HS biết đƣợc cần vận dụng và cách thức vận dụng các kiến thức đã biết để đi đến kết luận. + Đối với cách GQVĐ bằng thực nghiệm: HS đề xuất đƣợc các giả thuyết.
- Đề xuất đƣợc phƣơng án TN để kiểm nghiệm kết quả đã tìm đƣợc từ lí thuyết hoặc kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết đã đƣợc đề xuất. Cụ thể nhƣ: xác định đƣợc những dụng cụ cần dùng, cách bố trí các dụng cụ TN, cách tiến hành TN, thu thập dữ liệu TN và xử lí dữ liệu TN. 9 c - Đề xuất đƣợc phƣơng án bổ sung, cải tiến các TBTN hoặc thiết kế, chế tạo TBTN mới. - Xác định đƣợc các bộ phận chính, cấu tạo và chức năng của từng bộ phận, mối liên kết giữa các bộ phận này trong việc tạo ra quá trình hoạt động của ứng dụng kĩ thuật của vật lí.
- Phát hiện đƣợc mối liên hệ có tính qui luật (các định luật, nguyên lí vật lí) đã biết tồn tại trong TBTN, giải thích đƣợc nguyên tắc hoạt động của TBTN. - Thiết kế đƣợc phƣơng án chế tạo ứng dụng kĩ thuật của vật lí. Cụ thể nhƣ: Xác định đƣợc những kiến thức vật lí đã biết cần vận dụng để chế tạo ứng dụng kĩ thuật của vật lí; đề xuất các phƣơng án thiết kế khác nhau.