BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM TP. HỒ CHÍ MINH KHOA VẬT LÝ xw LUAN VĂN TỐT NGHIỆP Dé tai: CHẾ TAO MỘT SỐ THi NGHIEM VAT LÝ Phổ THONG BON GIẢN và ÍT TON KÉM Giáo viên hướng dẫn+ Lê Thi Thanh Thao Sinh viên thực hiện + Lê Nguyễn Trung Nguyên Niên khóa : 1997 - 2001 Luận văn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém LỜI CẢM ƠN Nhờ sự giúp đỡ của quý thầy cô , gia đình và bạn bè , em đã hoàn thành xong bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Em xin cảm ơn quý THẦY CÔ đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt những năm học vừa qua. Em xin chân thành cảm ơn Cô LÊ THỊ THANH THẢO đã tận tình hướng din em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém LOI MG ĐẦU Theo những nghiên cứu giáo duc gân đây về hiện trang giáo dục. về nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học, nhằm đào tạo những người lao động phát triển toàn diện được đăng tải trên các báo, các tạp chí nghiên cứu giáo đục chuyên nghành cho thấy sự lạc hâu về nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá giáo dực so với yêu cầu của sự phát triển xã hội đối với giáo dục. Đây là những yếu tố chủ yếu giải thích cho thực trạng giáo duc hiện nay ( biểu hiện rõ nét ở học sinh, sau quá trình giáo duc, là sự kém năng động. sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn rất hạn chế ).
Trong một hệ thống giáo duc và cơ chế giáo dục dang còn tri trệ. câu hỏi lớn đặt ra cho mỗi giáo viên là làm thế nào giúp học sinh đến mức tối đa phát huy tính tích cực , chủ động và sáng tạo trong học tập, trong vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Trong phạm vì một luận văn nhỏ, tôi quan tâm đến những việc làm có thể trong tam tay của giáo viên và học sinh, có thể giúp học sinh ndm vững kiến thức, phát huy trí sáng tao và khả năng vận dụng kiến thức. Từ đó yêu thích môn học, từng bước hình thành và phát triển năng lực sáng tao.
Chủ dé của luận văn là bước đầu sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các đổ dùng, phương tiện sẵn có trong đời sống và ở trong trường học kết hợp với kiến thức Vật lý được trang bị để chế tạo một số các thí nghiệm và một số mô hình kỹ thuật ứng dụng đơn giản có tính thực tiễn. 7i hy vọng rằng những bài thí nghiệm mở đâu đơn giản và những bài tập thí nghiệm ở nhà được trình bày trong luận văn sẽ mang lại một hiệu quả tốt cho giờ học Vật lý, và là sự mở déu có cơ sở cho những ai yêu thích có thể tiếp tục đi sâu khai thác và chế tạo thí nghiệm đơn giản từ những vật liệu rẻ tiễn, dễ kiếm trong cuộc sống hàng ngày. Luận văn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém MUG LUG Pe) UO(72 |; eee ne ee ee nen rE 4 1- Con đường dẫn đến để tài----------------------------- ---- ------- --- -- 5 I.1I- So lược hiện trang giáo duc Việt Nam-------------------- M 1.2- Muc tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam------------------ Ụ 1.3- Ly do chọn để tài----------------------=--<~-<<=<<~~========es II 1.1- Về phương diện khoa hoc--------------------------: II 1.2- Về phương diện giáo duc--------------------------- 1! 1.4- Xu hướng phát triển của dé tai----------------------------- 13 1.5- Pham vi nghiên cứu của để tai----------------------------- 14 2- Vị tri và vai trò của thi nghiệm đơn giản trong giờ học Vật lý- l4 2.1- Thi nghiệm được thực hiện vào dau giờ học------------- 1S 2.2- Thi nghiệm được giao về nhà làm ( bài tập thí nghiệm, bài tập sáng tạo )---------~--~-~-~-<~~~~=~=~~=xe=z=s=x=~s=srxei 18 B- PHAN NỘI DUNG CHÍNHH--------.--------------~----~--==========ee 20 CHẾ TẠO MỘT SỐ THÍ NGHIỆM VẬT LÝ PHỔ THONG BON GIẢN VA it TON KEM © PAN KẾT WA Nm 46 12 THHIM NÀNG ¿2kioiáccickzaatoatdooeoi 47 2- Tài liệu tham khao-------------------------------------------------- 49 Luận vấn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật ly pho thông đơn giản và ít tốn kém ii- PHAR DAW LiiiN Luận vấn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém 1- Con đường dẫn đến dé tài 1.1— Sơ lược hiện trang giáo dục ở Việt Nam Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục hiện nay có liên quan đến đặc điểm của ngành giáo dục Việt Nam. Vì thế, trong quá trình tìm hiểu hiện trạng giáo dục ở Việt Nam chúng ta sẽ sơ lược qua một vài đặc điểm của nên giáo duc nước nhà.
Nên giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính thống nhất , phổ cập , đại chúng và pháp lệnh. ° Là nên giáo dục xã hội chủ nghĩa nên nền giáo dục Viết Nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền giáo dục các nước xã hội chủ nghĩa khác. Vì lẽ đó mà đặc điểm giáo dục Việt Nam có khác so với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước tư bản. + Nền giáo dục Việt Nam có tính thống nhất chịu sự quản lý của nhà nước.
Nhà nước quản lý hệ thống giáo dục quốc dân vé mục tiêu, chương trình , nội dung , kế hoạch giáo dục , tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Toàn bộ nội dung chương trình giáo dục là do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ( Bộ GD & ĐT )quy định ban hành. Chương trình giáo dục sẽ được cụ thể hóa qua sách giáo khoa ( Sgk ) do Bộ GD & ĐT tổ chức biên soạn. Bộ Sgk này là duy nhất và được sử dụng chính thức, thống nhất , ổn định trong giảng đạy và học tập ở trường phổ thông và các cơ sở giáo duc khác.
Do tính thống nhất của giáo dục nên tất cả mọi nơi trong nước đều phải sử dụng bộ sách này. Nhưng có một nghịch lý rằng Sgk thì thống nhất nhưng trang thiết bị đi kèm lại không đồng bộ hoặc không có trang thiết bị , Đó là lý do dẫn đến tình trạng học * suông " hiện nay , Hơn nữa , dạy học theo một khuôn mẫu quy định sẵn là rất khó do có sự khác biệt về hoàn cảnh sống , diéu kiện —Tinh điện kế kinh tế ở từng địa phương v. Diéu này đã gây ra nhiều khó khăn cho cả người day lẫn người hoc , ví dụ : Sự phóng điện trong chất khí Luận văn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém Trong chương trình lớp 11, chương IV : DONG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG( không có trong chương trình song ngữ và chương trình của Pháp ), loạt bài trong chương này rất chú trọng đến các thí nghiệm biểu diễn như dòng điện trong chất điện phân , dòng điện trong chất khí , dòng điện trong chân không v. Đối với bài dòng điện trong chất khí (Sgk 11 trang 122 ) có sử dụng thí nghiệm như hình trên.
Chúng ta nhận thấy rằng thí nghiệm này dễ thực hiện, chỉ cẩn hai bin kim loại, đèn cổn, máy phát tinh điện ( hau như trường phổ thông nào cũng có ) và một tĩnh điện kế là có thể cho học sinh quan sát được sư phóng điện trong chất khí. Dĩ nhiên không khí phải đủ khô. Tuy nhiên hiện nay rất ít giáo viên làm thí nghiệm này một phần nguyên nhân là do trường thiếu tĩnh điện kế, nhất là các trường ở nông thôn. Lúc này giáo viên van dạy theo Sgk nhưng chỉ mô tả thí nghiệm bằng hình vẽ trong Sgk mà thôi.
Với cách dạy * suông ” như thế ( trung bình học sinh chỉ có thể làm hoặc quan sát thầy , cô làm 2 lẩn trong | năm) thì học sinh sẽ khó tin tưởng vào sự đúng đắn của kiến thức, sẽ khó nắm bắt kiến thức và đương nhiên sẽ gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Thông thường. học sinh chỉ chấp nhận kiến thức một cách máy móc mà không hiểu hết ý nghĩa, bản chất và phạm vi áp dụng của nó. Một ví dụ khác, bài Kính Hiển Vi và Kính Thiên Văn thuộc chương VI : MAT VÀ CÁC DỤNG CU QUANG HỌC của chương trình lớp 12.
Trong bài này Sgk nêu định nghĩa , cấu tạo của hai loại kính rất kỹ nhưng không hé có một hình chụp nào để học sinh dễ hình dung. khi học bài này , học sinh cũng không được quan sát trực tiếp trên các dụng cụ. Đây là một trong những nguyên nhân cả giáo viên và học sinh Việt Nam mơ hé và xa vời với một lĩnh vực khoa học cực kỳ quan trọng là “ Thiên văn hoc”. Vì thiếu trang thiết bị giảng day nên ở các trường hoe Việt Nam, hiện nay, các gid học vẫn thường diễn ra theo kiểu truyền thống.
Tức là, người thay có vai trò thông báo , truyền đạt những kiến thức có trong Sek cho học sinh chủ yếu là bằng lời nói. Học trò ngồi lắng nghe, ghi chép lại nội dung bài giảng của thấy mà ít được hoạt động. Còn thời gian học tập ở nhà chủ yếu là học thuộc lòng bài giảng ở lớp và làm các bài tập áp dụng Luận văn tốt nghiệp Chế tạo một số thí nghiệm Vật lý phổ thông đơn giản và ít tốn kém công thức mà thay yêu cầu. Phương pháp day va học theo kiểu này thể hiện nhiều sự bất cập va di nhiên cũng khó đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay.
Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì lượng kiến thức mà nhãn loại có được càng đổ sô. Do đó, người thay không có đủ thời gian để truyền đạt một khối lượng lớn kiến thức cho học sinh nếu chỉ bằng lời nói. Hơn nữa , người thấy cũng không thể biết hết những thành tựu mà nhân loại đã đạt được nên nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh lòng ham mê hiểu biết, khả năng tự nghiên cứu là hết sức quan trọng. Mặt khác , với yêu cẩu của giáo dục hiện nay , người thấy không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh phát huy tính năng đông, trí sáng tạo, kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.