Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận, kiệt quệ tài chính trên sàn chứng khoán Việt Nam Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị về thông tin lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VỊ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN, KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2. Tổng quan tình hình các nghiên cứu Tình trạng căng thẳng tài chính hay kiệt quệ tài chính là một trong các nguyên mà các nhà quản trị dựa vào đó,tiến hành hành vi quản trị lợi nhuận. Do đó, trong phần nội dung này, bài nghiên cứu sẽ trình bày những nghiên cứu đã được thực hiện trước đây trên thế giới và tại Việt Nam. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế Những nghiên cứu trước đây đã có bằng chứng khác nhau đưa ra rằng trong giai đoạn tình trạng kiệt quệ tài chính, doanh nghiệp có khả năng sử dụng đến việc quản trị lợi nhuận, cụ thể: Khi các công ty gặp khó khăn tài chính, các nhà quản trị gặp áp lực trong việc ra quyết định và hành vi của họ có thé bị ảnh hưởng bởi áp lực của tình trạng khó khăn (latridis và Kadorinis, 2009).
Tuy nhiên, Chen và cộng sự (2010) chỉ ra các tổ chức tài chính che giấu tình hình khó khăn tài chính nhằm hạn chế người cho vay sẽ lo lắng về tình trạng này sẽ ảnh hưởng không thanh toán được của doanh nghiệp mà không cho vay. Một số tài liệu nghiên cứu chỉ ra việc doanh nghiệp sử dụng quản lý thu nhập dồn tích hoặc quản trị thu nhuận thực tế hoặc sẽ kết hợp cả trong tình trạng kiệt quệ tài chính, cho ra các kết quả khác nhau. Zang (2012) chỉ ra rằng trong giai đoạn khó khăn tài chính, việc quản trị lợi nhuận thực tế là quá tốn kém vì chi phí cận biên của việc đi chệch khỏi các chiến lược kinh doanh tối ưu sẽ là quá nghiêm trọng, trong những trường hợp này thì quản trị dồn tích là phổ biến và được các công ty này áp dụng nhiều hơn. Nghiên cứu này cũng đưa ra bằng chứng cho rằng các công ty có thể phải đối mặt đánh đổi đối với từng chiến lược do quyết định đánh đổi của nhà quản lý phụ thuộc vào chỉ phí tương đối của hai phương pháp quản lý thu nhập, với mức thu nhập mong muốn, một chiến 5 lược quản lý thu nhập có nhiều ràng buộc hơn, người quản lý sẽ ưu tiên sử dụng chiến lược kia nhiều hơn.
Các tài liệu khác nghiên cứu như Enomo và các cộng sự (2003) trước đó đã phát hiện quản trị thực ít phổ biến hơn bởi bối cảnh bị kiểm soát nhiều hơn trong hành vi của nhà quản trị. Hầu hết, các tài liệu nghiên cứu liên quan được thực hiện giai đoạn trước đó đều thấy rằng các tổ chức tài chính đều lựa chọn quản trị dồn tích, tuy nhiên khi xuất hiện nhiều thêm các quy định quản lý đặc biệt là Sarbanes-Oxley Act (SOX), và với sự kiểm tra chặt chẽ của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) (Carangelo và Ferrillo, 2016), quản trị lợi thực đã trở thành lựa chọn tốt hơn. Campa và Camacho-Miñano (2014) xét mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp ở Tây Ban Nha trước khi phá sản và phát hiện ra rằng khi doanh nghiệp gặp tình trạng kiệt quệ tài chính cao sẽ điều chỉnh tăng thu nhập qua giao dịch thực hon là qua các khoản đồn tích và ngược lại. Kể cả khi doanh nghiệp sắp phải đối mặt với việc sẽ phá sản thì quản trị lợi nhuận thực vẫn được ưu tiên hơn dồn tích do quản trị thực khó bị kiểm soát hơn và được cho là hiệu quả hơn, và tác động nhanh hơn.
Nagar & Sen (2016) lại nhận thấy rằng trong giai đoạn khó khăn ban đầu, các công ty sử dụng quản lý thu nhập thực thông qua việc giảm chỉ phí tùy ý; ở giai đoạn khó khăn cao hơn, các công ty thực hiện mức độ quản lý thu nhập dồn tích cao hơn. Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn và chưa thống nhất kết quả nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào chủ đề nghiên cứu kiểm định, nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên thị trường: Nguyễn Thị Phượng Loan & Nguyễn Minh Thao (2016); hoặc tác động của các đặc điểm công ty đến hành vi quản trị lợi nhuận như đặc trưng doanh nghiệp, dòng tiền, quản trị công ty có thể kể đến như Nguyễn Vĩnh Khương & Phùng Anh Thư (2017), Trần Thị Bích Duyên & Phạm Nguyễn Đình Tuấn (2020); các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể kể đến nghiên cứu: Hien Thi BUI & Huong Nguyen LE (2021). Tuy nhiên nghiên cứu về ảnh hưởng kiệt quệ tài chính lên quản trị lợi nhuận chưa có nhiều và kết luận không được nhất quán.
Nghiên cứu của Hồ Thủy Tiên (2022) phát hiện ra khi gặp các công ty niêm yết hay chưa niêm yết bị kiệt quệ tài chính giai đoạn 2013-2019 đều sẽ thực hiện gia tăng tổng quản trị lợi nhuận thực và hạn chế quản trị lợi nhuận dồn tích. Còn Lê Thị Phương Vy (2020) phát hiện ra mối quan hệ tích cực của kiệt quệ tài chính cho cả hoạt động quản trị lợi nhuận thực tế và dồn tích nhằm đáp ứng được các hợp đồng tín dụng, tránh việc tăng các chi phí lãi vay trong giai đoạn 2009 - 2017. Các mâu thuẫn này là do mẫu nghiên cứu, 6 không gian và thời gian nghiên cứu và tùy vào đặc điểm của mẫu nghiên cứu, quan trọng là do khác biệt do lựa chọn mô hình nghiên cứu đo lường do đó kết quả sẽ có sự khác biệt đòi hỏi các nghiên cứu để khỏa lấp. Khoảng trống nghiên cứu trước đây Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu thực hiện trước đây, cả trên thế giới và Việt Nam, tác động của kiệt qué tài chính đến quản trị lợi nhuận là chưa được thống nhất.
Đặc biệt nghiên cứu về tác động đến cả hai cách thức quản trị lợi nhuận dồn tích và quản trị lợi nhuận thực tế này tại Việt Nam còn hạn chế theo như hiểu biết của tác giả. Vì vậy, thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử dụng bộ dữ liệu được cập nhật hơn đến 2022 để thực hiện nghiên cứu. Các nghiên cứu trước có các kết luận không thống nhất về ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến quản trị lợi nhuận. Tác giả thực hiện nghiên cứu với mong muốn xóa nhòa đi mẫu thuẫn trong việc kết luận tác động này ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến cả hai công cụ quản trị lợi nhuận thực và quản trị lợi nhuận dồn tích.
Khung lý thuyết nghiên cứu 2. Cơ sở lý luận về hành vi quản trị lợi nhuận 2. Khái niệm về quản trị lợi nhuận Chủ đề quản trị lợi nhuận (QTLN) là một chủ đề mang tính thời sự trong tài chính được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra quan điểm dựa trên nhiều góc nhìn. Tuy nhiên, ít nhất là đến tận thời điểm hiện tại, vẫn chưa có sự đồng thuận nào được đưa ra về một định nghĩa quản trị lợi nhuận thống nhất.
Sau đây là một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu thực hiện trước đây và quan điểm của các nhà nghiên cứu: Theo Schipper (1989) định nghĩa quản trị lợi nhuận được hiểu là việc can thiệp có chủ đích kỹ lưỡng của ban quản lý doanh nghiệp trong quá trình cung cấp thông tin tài chính trên báo cáo nhằm đạt được mục tiêu cá nhân của người quản lý đã đề ra trước đó. Tương tự như ý kiến của Schipper(1989), Levitt (1998) cũng cho là quản trị lợi nhuận là việc lợi dụng vùng tối của kế toán làm sai lệch do người quản trị đã “cắt” các khía cạnh của nó theo ý muốn của họ nên báo cáo thu nhập toàn diện đang phản ánh mong muốn của ban quản lý hơn là tình hình tài chính thực tế đang diễn ra của doanh nghiệp. Quan điểm toàn diện được giới thiệu bởi hai nhà nghiên cứu Healy và Wahlen (1999) cho rằng điều chỉnh thu nhập xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ nhằm sắp xếp lại thứ tự của các giao dịch để tu chỉnh báo cáo tài chính, nhằm đánh lừa một số bên liên quan như các cổ đông có mối liên hệ mật thiết với tài chính của công ty hiểu sai về hoạt động kinh doanh của công ty hoặc ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên các con số được thu nhập kế toán. Hành vi quản trị lợi nhuận thực hiện trong khuôn khổ và các nguyên tắc kế toán, nó không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, bởi vì các nhà quản lý sẽ lựa chọn các hạch toán khác đi trong chi phí, doanh thu và lợi nhuận.
Việc phân biệt quản trị lợi nhuận và bóp méo lợi nhuận nhằm gian lận trong tài chính khó để nhận diện do nhà quản lý luôn điều tiết chi phí trong phạm vị, khuôn khổ kế toán mà vẫn đạt được mục tiêu. Tóm lại, quản trị lợi nhuận là hành vi dựa trên nguyên tắc kế toán trong khuôn khổ, không vi phạm pháp luật nhằm điều chỉnh doanh thu và chỉ phí, được can thiệp có chủ đích của các nhà quản trị hướng đến mục tiêu cá nhân, nhằm đánh lừa các bên sử dụng báo cáo hiểu sai tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Công cụ quản trị lợi nhuận Các nghiên cứu đi trước đã đề cập rằng các công ty có hai kỹ thuật để điều chỉnh thu nhập và thường được nghiên cứu đại diện cho hành vi quản trị thu nhập là: quản trị thu nhập dựa trên cơ sở đồn tích (Accrual earnings management - AEM) va quan trị thu nhập thực (Real earnings management - REM) (Schipper, 1989). Quản trị lợi nhuận dồn tích (Accural - based earnings management - AEM): là hoạt động thông qua ghi nhận doanh thu và chỉ phí tại thời điểm xảy ra giao dịch kinh tế, không phải thực thu - chi tiền, cách thức gồm: thay đổi chính sách kế toán hàng tồn kho, lựa chọn trích lập dự phòng phải thu khó đòi, khấu hao tài sản, trích các chỉ phí trả trước,.