Đặt vấn đề Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với thảm thực vật rất phong phú và đa dạng. Đó chính là điều kiện thuận lợi lớn cho ngành nuôi ong phát triển ở Việt Nam (Krell, 1996). Nuôi ong là ngành kinh tế đặc biệt không cần đầu tƣ lớn, thân thiện với môi trƣờng cho ra nhiều sản phẩm có giá trị nhƣ mật ong, sữa ong chúa, phấn hoa… không chỉ có giá trị dinh dƣỡng cao, là nguồn dƣợc liệu quý cho ngƣời tiêu dùng trong nƣớc mà cũng là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Trong những năm gần đây nghề nuôi ong phát triển khá nhanh.
Từ vị trí thứ 10 trong danh sách các nƣớc xuất khẩu mật ong hàng đầu thế giới năm 2002 và là nƣớc xuất khẩu mật ong lớn thứ hai châu Á sau Trung Quốc, đến năm 2014 iệt Nam đã vƣơn lên vị trí thứ 6. Đặc biệt Việt Nam giữ vị trí số 1 về số lƣợng các nƣớc xuất khẩu mật ong vào Hoa Kỳ (Cục Chăn nuôi Việt Nam, 2014). Ngoài ra, ong còn tham gia vào quá trình thụ phấn làm tăng năng suất và chất lƣợng cây trồng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng sinh thái (Phạm Hồng Thái, 2014). Gía trị của cây nông nghiệp phụ thuộc vào sự thụ phấn của ong mật ƣớc tính là 14,6 tỷ USD mỗi năm.
Apis cerana, loài ong mật bản địa của châu Á, là nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên quý giá trong khu vực và đƣợc coi là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên. Ở Việt Nam, Apis cerana thích nghi tốt với khí hậu địa phƣơng và cây có hoa, sống đƣợc qua các mùa khó khăn trong năm nên đã đƣợc nông dân và những ngƣời nuôi ong chuyên nghiệp trên khắp cả nƣớc thuần hóa, nuôi giữ và lấy mật từ lâu (Trần ăn Toàn, 2012). Theo Phạm Hồng Thái (2014) Việt Nam có khoảng 1,5 triệu đàn ong. Trong số này có 350.000 đàn Apis cerana đạt 23,33%, 1.000 đàn Apis mellifera đạt 76,67%.
Mật ong xuất khẩu đã tăng lên đáng kể qua các năm lên nhu cầu về chất lƣợng mật là tất yếu. Tuy nhiên, tình hình nuôi ong ở Việt Nam đang gặp những vấn đề nan giải: dịch 1 bệnh ở ong, thoái hóa giống ong, tỷ lệ giao phối cấn huyết, … đang là những vấn đề cấp bách cần đƣợc giải quyết. Hiện nay, do tình hình nuôi ong ngoại rất nhiều với quy mô lớn nên rất nhiều những công trình khoa học nghiên cứu về đặc tính sinh học ong ngoại. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh sản ong nội còn ít, dẫn đến việc thiếu hụt kiến thức quản lý đàn ong và việc chọn giống còn thấp, dẫn đến quy mô nuôi ong nội còn hạn chế.
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh sản của ong Apis cerana sẽ là cơ sở để chọn lọc, nhân giống và quản lý đàn ong để nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhằm mục đích để bảo tồn và phát triển nghề nuôi ong nội nói riêng và nuôi ong nói chung trong nƣớc, điều này là cần thiết để thực hiện sản xuất thực tế. Xuất phát từ những yêu cầu này đƣợc sự giao nhiệm vụ của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Thái tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh sản của ong nội Apis cerana tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021” 1.2 Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản của dòng ong nội Apis cerana để làm cơ sở cho công tác chọn giống nhân nuôi bảo tồn ong ở nƣớc ta.
Yêu cầu Nghiên cứu đƣợc một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana Nghiên cứu đƣợc một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong thợ Apis cerana Nghiên cứu đƣợc một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong đực Apis ceran 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ong mật đóng vai trò quan trọng trong việc thụ phấn cho cây trồng. Qua việc cây trồng đƣợc ong thụ phấn ngƣời ta thấy rằng năng suất các cây lấy quả và lấy hạt tăng lên 20 – 30%, có thể lên tới 50%. Ong mật chiểm ƣu thế lớn trong việc thụ phấn là do cơ thể ong có nhiều lông nhỏ, dễ dàng bám dính các hạt phấn hoa; số lƣợng cá thể của đàn ong rất lớn từ vài nghìn đến vài chục nghìn cá thể; ong thƣờng đến lấy mật từ một loại cây, ít thay đổi, hơn nữa để lấy đƣợc đầy 2 giỏ phấn ong phải ghé thăm 100 – 150 bông hoa, có nghĩa là trong một ngày đêm ong có thể tới ghé thăm từ 40 – 60 triệu bông hoa (Crane,1990). Theo Crane (1990) đã thống kê rằng nghề nuôi ong của nhân loại đƣợc phát hiện ở châu Phi khoảng 4500 năm trƣớc.
Epiopi có tới 2,52 triệu đàn, năng suất mật 8,3 kg/đàn. Kenia có 2,1 triệu đàn năng suất mật đạt 5,7kg/đàn. Ai Cập có 1,1 triệu đàn, năng suất đạt 6,8 kg/đàn, Angola có 1 triệu đàn năng suất mật đạt 15kg/ đàn. Ở Châu Âu có truyền thống nuôi ong lâu đời nên có nghề nuôi ong tập trung mật độ lên tới 3,2 đàn/km2, có tổng số 13 – 15 triệu đàn ong Apis mellifera, sản lƣợng mật là 123 – 165 ngàn tấn, năng suất mật thấp, bình quân 11kg/đàn/năm, phần lớn ngƣời nuôi là nghiệp dƣ.
Qua các di tích khảo cổ và tƣ liệu lịch sử, ngƣời ta thấy từ thời cổ xƣa nƣớc Nga đã nổi tiếng với nghề nuôi ong. Thời kì Liên Xô cũ có nhiều biện pháp nuôi ong trong cả nƣớc, khu vƣc, quốc doanh, tập thể. Liên Xô cũ là nƣớc dẫn đầu trên thế giới về số đàn ong là sản lƣợng mật, bình quân 0,4 đàn đàn/km2, vì có nhiều vùng quá rét nên không thể phát triển nuôi ong đƣợc. Mexico có nghề nuôi ong rất phát triển, năm 1984 đạt sản lƣợng mật đạt 87.000 tấn với 2,68 triệu đàn, xuất khẩu 54.
Ở Nam Mỹ sản lƣợng mật đạt trên 54.000 tấn trong đó Acghentina sản xuất hơn một nửa với 1,4 triệu đàn ong, đạt năng suất cao với 46,5 kg/đàn mật độ ong 3 thƣa 0,07 đàn/km2. Châu Á là một châu lục có điều kiện tự nhiên và thảm thực vật phong phú. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến việc Châu Á biến thành lục địa duy nhất của bán cầu đông có nhiều loài ong bản địa. Ong bản địa chính là Apis xerana và đƣợc nuôi ở trong thùng.
Còn ở phía Tây, khu vực địa trung hải có giống ong bản địa là Apis mellifera. Trung Quốc là nƣớc đứng đàu trong việc xuất khẩu mật ong của Châu Á, chiếm một nửa trong tổng số đàn của châu lục. Theo số liệu thống kê thì sản lƣợng mật ong hàng năm ổn định từ 170. Năm 2001, Trung Quốc sản xuất khoảng 200.000 tấn mật, trong đó lƣu thông trên thị trƣờng ít nhất là 150.
Các sản phẩm khác đƣợc ƣớc tính là 1500 tấn sữa chúa, 3500 tấn phấn hoa, 2500 tấn sáp, 300 tấn keo ong (Phùng Hữu Chính, 1996) Để đạt sản lƣợng mật cao nhƣ vậy công tác chọn giống vô cùng quan trọng. Trên thế giới công tác chọn giống đã đƣợc chú ý từ lâu song chủ yếu với giống ong ngoại Apis mellifera, còn ong nội chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Ở các nƣớc vùng Nam Á việc nghiên cứu giống ong nội chƣa đƣợc quan tâm nhiều lên năng suất mật còn rất thấp, chỉ đạt 1 – 3 kg/đàn/năm. Ngƣời ta đã biết rằng các đặc điểm kinh tế của đàn ong mật phụ thuộc chủ yếu vào chất lƣợng của ong chúa, phẩm chất ong chúa phụ thuộc vào cả hai yếu tố di truyền và môi trƣờng.
Phẩm chất của ong chúa không chỉ về mặt uy tín đƣợc kiểm soát, nhƣng cũng phụ thuộc vào điều kiện mà nó phát triển dƣới dạng ấu trùng, kích thƣớc và sức sống của đàn ong mật là sự phản ánh trực tiếp của kiểu gen của ong chúa và cả kích thƣớc cá thể của nó và sức sống. Ví dụ nhƣ trọng lƣợng cơ thể của ong chúa tăng, và số lƣợng các noãn sào tăng lên. Ngoài ra, một phần của các biến thể thƣờng đƣợc quan sát thấy trong số nhiều nữ hoàng thừa hƣởng kích thƣớc tƣơng tự và sự phù hợp của cơ thể là kết quả của các biến thể trong các yếu tố môi trƣờng trong quá trình nuôi. Công việc hiện tại nhằm mục đích nghiên cứu các yếu tố nhất định ảnh hƣởng đến phần trăm chấp nhận bởi các đàn ong mật của ấu trùng trong mũ ong chúa nhân tạo.
Các yếu tố 4 này bao gồm: tuổi ấu trùng, phƣơng pháp ghép, thời kỳ ghép, các loại của cốc nữ hoàng, vị trí thanh chứa ô hoàng và các chế độ ăn kiêng khác nhau. Đầu tiên là chất liệu làm nên những chiếc mũ chúa nhân tạo đƣợc thực hiện cũng có thể điều chỉnh sự chấp nhận của tế bào và dự phòng. Mũ chúa nhân tạo thƣờng đƣợc làm các loại sáp và nhựa khác nhau. Vuillaume (1956) kết luận rằng sự chấp nhận không bị ảnh hƣởng bởi vật liệu xây dựng: ong chấp nhận tế bào đƣợc thực hiện các loại sáp thực vật và khoáng chất khác nhau, bao gồm parafin, hoặc thủy tinh hoặc nhựa.
Weiss (1967) nhận thấy rằng mũ ong chúa nhân tạo làm bằng sáp ong mới và sáp ong từ những chiếc lƣợc cũ cũng đƣợc chấp nhận nhƣ nhau. Theo nghiên cứu của Hussain (2007) về đánh giá các yếu tố nhất định ảnh hƣởng đến việc nuôi ong chúa trong các đàn ong mật về tỷ lệ chấp nhận ong chúa di trùng đơn, di trùng kép cho kết quả chấp nhận tốt nhất (88,33% và 85%), tiếp theo là di trùng ƣớt (80% và 81,66%) đối với tế bào ong chúa bằng sáp và nhựa tƣơng ứng, trong khi loại khô đƣợc chấp nhận ở xà cuối cùng (65% và 63,3%), có sự khác biệt cao đáng kể giữa di trùng khô và di trùng ƣớt và di trùng kép. Đối với vị trí thanh mũ ong chúa cho biết vị trí thấp nhất của các thanh xà cho kết quả chấp nhận tốt nhất (90%) tiếp theo là thanh xà ở giữa (76,66%) rồi đến thanh trên cao cho (53,3%) không có sự khác biệt về sự chấp nhận phần trăm đƣợc tìm thấy giữa các ấu trùng đƣợc ghép thấp hơn từ 1 đến 2 ngày tuổi, có sự khác biệt đáng kể về phần trăm chấp nhận trong mùa xuân, mùa hè và cuối mùa hè, ngƣợc lại. Đầu mùa hè là thời kỳ tốt nhất để chấp nhận các tế bào ong chúa, sau đó là mùa xuân.