Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hoạt động giao tiếp của con người, lắng nghe giữ vai trò cốt lõi nhằm thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội. Theo nghiên cứu thực nghiệm của Paul Tory Rankin (1930), thời gian dành cho hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người phân bổ gồm 42,1% cho việc nghe, 31,9% cho việc nói, 15,0% cho việc đọc và 11,0% cho việc viết. Các nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm cũng chỉ ra rằng tốc độ phát ngôn trung bình đạt khoảng 125 từ/phút, trong khi não bộ có khả năng xử lý thông tin nhanh gấp bốn lần tốc độ nói (Trần Thị Minh Đức, 2016), tạo ra khoảng trống tư duy khiến người nghe dễ bị phân tâm hoặc chọn lọc thông tin theo định kiến cá nhân.

Trong môi trường giáo dục đại học sư phạm, kỹ năng lắng nghe tích cực (active listening) là năng lực nghề nghiệp quan trọng tác động trực tiếp đến quan hệ tương tác giữa giảng viên với sinh viên, sinh viên với sinh viên, đồng thời là tiền đề cho mối quan hệ giáo viên - học sinh - phụ huynh trong tương lai. Mặc dù vậy, các khảo sát thực tế tại Việt Nam (Hoàng Văn Bình; Nguyễn Xuân Trung, 2016) chỉ ra rằng sinh viên khối ngành sư phạm nhìn chung có kỹ năng giao tiếp ở mức trung bình và thấp, chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng lắng nghe so với kiến thức chuyên ngành. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm trường Đại học Sư phạm TP.HCM" được tác giả Nguyễn Phạm Thùy Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đinh Quỳnh Châu (năm 2023).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng biểu hiện của kỹ năng lắng nghe tích cực trong giao tiếp của sinh viên sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài: kỹ năng, kỹ năng lắng nghe tích cực, đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm và kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm.
    2. Tìm hiểu thực trạng biểu hiện của kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thông qua thái độ và hành vi.

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Đa số sinh viên sư phạm có kỹ năng lắng nghe tích cực biểu hiện ở mức khá - tốt.
  2. Có sự khác biệt có ý nghĩa khi so sánh biểu hiện kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM dựa trên các tham số nghiên cứu: giới tính, năm học và ngành học.
  3. Kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên năm thứ 4 cao hơn so với sinh viên năm thứ 1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên từ năm 1 đến năm 4 thuộc các ngành đào tạo giáo viên (hệ sư phạm) tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng các biểu hiện qua thái độ và hành vi trong quá trình học tập và giao tiếp của sinh viên hệ sư phạm tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM trong năm học 2022 – 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các định nghĩa khoa học:

  • Kỹ năng: Tiếp cận theo Hoàng Phê (2000), Nguyễn Khắc Viện (2011), Nguyễn Thị Thế Bình (2014) và Đậu Thị Thu (2020), kỹ năng được xác định là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động bằng cách lựa chọn và áp dụng các phương thức phù hợp trong những điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định.
  • Lắng nghe: Tiếp nhận âm thanh qua thính giác đi kèm với trạng thái chú ý nhằm hiểu nội dung và cảm xúc của người nói (Hoàng Văn Hành, 2003; Huỳnh Văn Sơn, 2017). Tác giả dẫn chiếu mô hình 5 cấp độ nghe (Huỳnh Văn Sơn, 2017) gồm: (1) Không nghe, (2) Nghe giả vờ, (3) Nghe có chọn lọc, (4) Nghe chăm chú, (5) Nghe thấu cảm/lắng nghe tích cực.
  • Lắng nghe tích cực: Dựa trên lý thuyết nhân văn lấy con người làm trung tâm của Carl Rogers (1951, 1957) và thuật ngữ của Thomas Gordon (1975). Tác giả xác lập khái niệm công cụ: Kỹ năng lắng nghe tích cực là khả năng tập trung nghe người khác nói, ngừng suy nghĩ (không suy nghĩ bất cứ điều gì khác trong đầu), duy trì kết nối bằng cử chỉ phi ngôn ngữ nhằm thu nhận thông tin trọn vẹn, không phán xét, đánh giá theo quan điểm cá nhân và thấu hiểu như chính bản thân mình là họ.
  • Các kỹ thuật lắng nghe tích cực: Tác giả kế thừa mô hình 5 kỹ thuật của Topornycky & Golparian (2016) và Marin Valchev (2021) gồm: Tập trung chú ý (duy trì giao tiếp mắt, tránh xao nhãng); Thể hiện đang lắng nghe (gật đầu, mỉm cười, tư thế cởi mở); Cung cấp thông tin phản hồi (đặt câu hỏi làm rõ, tóm tắt, diễn giải); Trì hoãn phán xét (không ngắt lời); Phản hồi thích hợp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong tâm lý học giáo dục:

Phương pháp Quy mô / Mẫu nghiên cứu Công cụ và Quy trình thực hiện
Điều tra bằng bảng hỏi (Phương pháp chủ đạo) - Khảo sát thử: $N = 50$ sinh viên sư phạm.
- Khảo sát chính thức: $N = 220$ sinh viên hệ sư phạm từ năm 1 đến năm 4 năm học 2022–2023.
- Thang đo Likert 4 điểm ($1 =$ Hoàn toàn không đồng ý đến $4 =$ Hoàn toàn đồng ý).
- Phân thành 2 nhóm: Nhóm Thái độ (11 câu) và Nhóm Hành vi (16 câu, chia 3 tiêu chí: Sự tập trung [8 câu], Sự phản hồi [4 câu], Cử chỉ cơ thể [4 câu]).
- Thang phân loại điểm trung bình (ĐTB): Yếu ($< 1{,}75$), Trung bình ($1{,}75 - < 2{,}50$), Khá ($2{,}50 - 3{,}25$), Tốt ($> 3{,}25$). Điểm trung bình quy ước là $2{,}50$.
Quan sát khoa học $N = 23$ khách thể sinh viên trong 4 buổi học các học phần chung. - Quan sát kín trong điều kiện học tập tự nhiên với sự hỗ trợ của 1 quan sát viên phụ để đối chứng.
- Phiếu quan sát gồm 3 tiêu chí với các biểu hiện cụ thể: Sự tập trung (8 items), Sự phản hồi (7 items), Cử chỉ cơ thể (8 items).
Phỏng vấn chuyên gia Giảng viên có chuyên môn tại Trường ĐHSP TP.HCM. Phỏng vấn bán cấu trúc xoay quanh 3 câu hỏi về khái niệm, đánh giá thực trạng và biểu hiện kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm.
Thống kê toán học Dữ liệu từ 220 phiếu khảo sát. Sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, tính điểm trung bình ($M$), độ lệch chuẩn ($SD$), và phân tích phương sai ANOVA để kiểm tra sự khác biệt theo biến nhân khẩu học.

Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm tra độ tin cậy Cronbach's Alpha cho thấy thang đo Thái độ đạt $\alpha = 0{,}77$ và thang đo Hành vi đạt $\alpha = 0{,}82$. Đối với nhóm Cử chỉ cơ thể thuộc thang đo Hành vi, hệ số ban đầu đạt $\alpha = 0{,}53$ (thấp). Tác giả phân tích thấy rằng nếu loại biến "Tôi thường liếc nhìn sang hướng khác khi nói" thì $\alpha$ sẽ tăng lên mức cao; tuy nhiên, do nhóm này chỉ có 4 biến quan sát và không làm sai lệch kết quả tổng thể, tác giả quyết định giữ lại biến để phân tích toàn diện.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, đồng thời xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng:

  • Tổng quan nghiên cứu quốc tế:
    • Shinya Kubota và cộng sự (2004): Nghiên cứu tác động của đào tạo lắng nghe tích cực (phương pháp Học tập Trải nghiệm Sáng tạo - IEL) trên 345 nhà quản lý cấp trung tại Nhật Bản theo mô hình căng thẳng công việc của NIOSH. Kết quả kiểm tra bằng thang đo ALAS qua 3 giai đoạn (trước, sau 1 tháng, sau 3 tháng) trên 284 người cho thấy điểm thái độ và kỹ năng nghe tăng rõ rệt.
    • Beall và cộng sự (2008): Tổng quan 80 năm nghiên cứu lắng nghe trong giáo dục, chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa kỹ năng nghe với năng lực đọc viết và thành công học tập, dù các khóa học chuyên biệt về lắng nghe chỉ chiếm khoảng 7% thời gian đào tạo.
    • McNaughton và cộng sự (2008): Thực nghiệm dạy chiến lược lắng nghe tích cực cho giáo viên tiền công tác, được 30 phụ huynh đánh giá cao qua các video thực hành giao tiếp.
    • Harry Weger và cộng sự (2010, 2014): Nghiên cứu thực nghiệm trên 180 sinh viên về kỹ thuật diễn giải thông điệp (paraphrasing) và trên 115 sinh viên về phản hồi lắng nghe tích cực so với việc đưa lời khuyên đơn thuần.
    • Castro và cộng sự (2013): Nghiên cứu trên 208 khách thể về mô hình 4 bước "Nghe - Đặt câu hỏi - Tập trung vào vấn đề - Tìm bước đầu tiên" trong tương tác giáo viên - phụ huynh ($d = 1{,}43$).
    • Canpolat và cộng sự (2015): Phân loại các chiến lược lắng nghe tích cực của sinh viên thành 3 nhóm: nhận thức (ghi chú, đặt câu hỏi, suy luận), tình cảm (đến lớp đúng giờ, thích thú bài học) và tâm lý vận động (giao tiếp mắt, tư thế ngồi, cử chỉ).
    • Flavia và cộng sự (2016), Kourmousi và cộng sự (2017), Fiona và cộng sự (2019), Eggenberger (2019): Khẳng định vai trò của lắng nghe tích cực trong năng lực sư phạm, thang đo ALAS, thang AELS và tương tác phản hồi hai chiều trong lớp học.
  • Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Phạm Văn Tuân (2015): Khảo sát 178 sinh viên Đại học Trà Vinh, phát hiện sinh viên còn hạn chế ở các kỹ năng phức tạp như lắng nghe, phản hồi và vận dụng phi ngôn ngữ.
    • Trần Thị Phụng Hà & Nguyễn Ngọc Lẹ (2015): Khảo sát kỹ năng giao tiếp tại Đại học Cần Thơ, chỉ ra sinh viên năm thứ 4 tự đánh giá kỹ năng cao hơn sinh viên năm thứ 1.
    • Hoàng Thị Thu Hiền và cộng sự (2016): Thực nghiệm huấn luyện kỹ năng mềm cho 27 sinh viên ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, kỹ năng lắng nghe đạt ĐTB $2{,}6$.
    • Trương Thị Hoa: Khảo sát 186 sinh viên năm nhất ĐH Sư phạm Hải Phòng, kỹ năng lắng nghe trong làm việc nhóm chỉ đạt mức trung bình ($\text{ĐTB} = 2{,}0$).
    • Nguyễn Thị Thanh Mai (2018), Đồng Thị An Sinh (2021): Phân tích vai trò lắng nghe thấu cảm của giảng viên và việc tích hợp kỹ năng nghe - nói trong giao tiếp.
  • Đặc điểm tâm lý sinh viên sư phạm: Sinh viên sư phạm (chủ yếu từ 17 đến 25 tuổi) có hoạt động chủ đạo là học tập và rèn luyện nghề nghiệp. Các đặc điểm tâm lý nổi bật bao gồm: tư duy trừu tượng và phê phán phát triển (Lê Minh, 2019); tự ý thức nghề nghiệp cao; đời sống tình cảm phát triển mạnh mẽ về tình cảm trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ; giải quyết các mâu thuẫn nhận thức giữa khối lượng tri thức đào tạo và thời gian rèn luyện (Dương Thị Diệu Hoa, 2008; Dương Thị Hồng Hiếu, 2021). Nhu cầu giao tiếp và được tôn trọng của sinh viên tương ứng với bậc 3 và bậc 4 trong Tháp nhu cầu của Maslow (1943).

Chương 2: Kết quả nghiên cứu kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày phương pháp luận đo lường, quy trình chọn mẫu và phân tích dữ liệu khảo sát từ 220 sinh viên cùng dữ liệu quan sát 23 khách thể:

  • Mẫu nghiên cứu: Khảo sát 220 sinh viên thuộc các khoa sư phạm (Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Sư phạm Khoa học Xã hội...) phân bổ theo giới tính (Nam, Nữ) và năm học (từ năm 1 đến năm 4).
  • Biểu hiện thái độ lắng nghe tích cực qua bảng hỏi: Dữ liệu thống kê một số biến quan sát thuộc thang đo Thái độ (Bảng 2.5):
Biến quan sát (Items) Hoàn toàn không đồng ý ($N$) Không đồng ý ($N$) Đồng ý ($N$) Hoàn toàn đồng ý ($N$) ĐTB ($M$) ĐLC ($SD$)
1. Tôi thường suy nghĩ về nhiều chuyện khác đến nỗi không nghe thấy đối phương nói gì. 18 88 87 27 2,56 0,79
2. Tôi thường thích lắng nghe người khác nói hơn là chia sẻ chuyện của tôi. 6 35 134 45 2,99 0,65
3. Người khác đánh giá tôi là người biết lắng nghe. 3 — — — — 0,63
4. Tôi có xu hướng thúc giục người khác nói nhanh hơn. 40 47 — 12 — 0,77
  • Biểu hiện hành vi lắng nghe tích cực qua bảng hỏi và quan sát:
    • Sự tập trung: Thể hiện qua việc ngồi thẳng lưng, ghi chép nội dung chính, không ngắt lời người nói, hạn chế sử dụng điện thoại di động trong giờ học.
    • Sự phản hồi: Đo lường qua việc chủ động phát biểu ý kiến, đặt câu hỏi mở, tóm tắt diễn đạt lại thông điệp, chia sẻ kinh nghiệm tương tự.
    • Cử chỉ cơ thể: Đánh giá qua việc duy trì giao tiếp bằng mắt (eye contact), gật đầu đồng tình, hướng người về phía người nói, mỉm cười thích hợp.
  • Kết quả phân tích sai biệt (ANOVA): Khóa luận tiến hành phân tích phương sai ANOVA để kiểm tra sự khác biệt về thái độ và hành vi lắng nghe tích cực dựa trên ba biến nhân khẩu học:
    • Giới tính: So sánh mức độ biểu hiện giữa sinh viên nam và sinh viên nữ.
    • Năm học: So sánh sự tiến bộ qua các năm học, đặc biệt đối chiếu giữa sinh viên năm 1 và năm 4 (Biểu đồ 2.1).
    • Ngành học: Kiểm tra mức độ khác biệt giữa sinh viên thuộc các khối ngành đào tạo giáo viên khác nhau.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ văn bản

  1. Độ tin cậy của bộ công cụ đo lường: Thang đo kỹ năng lắng nghe tích cực dành cho sinh viên sư phạm được xây dựng gồm hai trục Thái độ ($\alpha = 0{,}77$) và Hành vi ($\alpha = 0{,}82$), đạt tiêu chuẩn định lượng trong nghiên cứu tâm lý học giáo dục.
  2. Mức độ biểu hiện kỹ năng: Đa số sinh viên có xu hướng nhận thức tích cực về vai trò của việc lắng nghe (thích lắng nghe người khác nói đạt ĐTB $2{,}99$, thuộc mức Khá). Tuy nhiên, hiện tượng phân tâm trong khi nghe vẫn tồn tại ở mức độ nhất định (biến quan sát suy nghĩ việc khác có ĐTB $2{,}56$).
  3. Phương pháp quan sát thực tế: Kết quả quan sát trực tiếp trên 23 sinh viên qua 4 buổi học đã bổ trợ, kiểm chứng cho số liệu bảng hỏi, phản ánh chi tiết các biểu hiện hành vi bên ngoài như mức độ ghi chép, giao tiếp mắt và sự tập trung trong lớp học.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Kiến nghị đối với sinh viên:
    • Nâng cao ý thức tự rèn luyện kỹ năng lắng nghe tích cực như một năng lực nghề nghiệp sư phạm bắt buộc.
    • Chủ động thực hành các kỹ thuật nghe hiểu trong giờ học: tập trung chú ý, hạn chế thiết bị gây xao nhãng, rèn luyện cử chỉ phi ngôn ngữ tích cực (gật đầu, nhìn thẳng) và tăng cường đặt câu hỏi phản hồi, tóm tắt ý kiến giảng viên và bạn học.
  • Kiến nghị đối với Nhà trường và Khoa đào tạo:
    • Tích hợp nội dung huấn luyện kỹ năng giao tiếp và lắng nghe tích cực vào chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm hoặc các chuyên đề kỹ năng mềm.
    • Tạo môi trường học tập tương tác, khuyến khích các hình thức thảo luận nhóm, đối thoại hai chiều giữa giảng viên và sinh viên nhằm tạo cơ hội thực hành kỹ năng lắng nghe.

Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng lắng nghe tích cực trên đối tượng sinh viên sư phạm tại Việt Nam (nơi các nghiên cứu trước đây đa phần chỉ khảo sát kỹ năng giao tiếp nói chung).
  • Xây dựng được bộ công cụ khảo sát và phiếu đánh giá quan sát hành vi lắng nghe tích cực cụ thể, có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo trong cùng lĩnh vực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Quy mô mẫu quan sát: Phương pháp quan sát mới chỉ thực hiện trên $N = 23$ khách thể tại một số học phần chung, chưa bao quát toàn bộ các bối cảnh học tập chuyên ngành khác nhau.
    • Độ tin cậy của tiểu thang đo: Nhóm chỉ báo Cử chỉ cơ thể trong thang đo hành vi có hệ số Cronbach's Alpha còn ở mức khiêm tốn ($\alpha = 0{,}53$) do số lượng biến quan sát ít ($4$ items) và có thể phát sinh sai lệch chọn mẫu ngẫu nhiên.
    • Phạm vi khảo sát: Đề tài chỉ thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM trong phạm vi một năm học, chưa mở rộng so sánh liên trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và số lượng khách thể quan sát trên nhiều trường đại học đào tạo sư phạm trong cả nước.
    • Bổ sung, chuẩn hóa các biến quan sát cho thang đo thành phần cử chỉ cơ thể để nâng cao độ tin cậy thống kê.
    • Thiết kế các mô hình thực nghiệm tác động hoặc chương trình tập huấn chuyên sâu nhằm đo lường sự cải thiện kỹ năng lắng nghe tích cực trước và sau can thiệp ở sinh viên sư phạm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên ngành Tâm lý học, Tâm lý học Giáo dục, Giáo dục học và các ngành Sư phạm: Nắm vững cơ sở lý luận về giao tiếp sư phạm, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc lắng nghe thấu cảm đối với hoạt động dạy học.
    • Giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo sư phạm: Sử dụng dữ liệu thực trạng để điều chỉnh phương pháp tổ chức dạy học, thiết kế các mô-đun rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên.
    • Học viên, sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp: Tham khảo phương pháp xây dựng công cụ nghiên cứu, cách phối hợp giữa điều tra bảng hỏi, quan sát kín và phỏng vấn chuyên gia.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Hệ thống tổng quan tài liệu phong phú với hàng loạt công trình nghiên cứu quốc tế uy tín về lắng nghe tích cực (Kubota, McNaughton, Weger, Castro, Canpolat, Kourmousi...).
    • Phiếu quan sát và đánh giá kỹ năng lắng nghe tích cực gồm 3 nhóm tiêu chí chi tiết (Sự tập trung: 8 items; Sự phản hồi: 7 items; Cử chỉ cơ thể: 8 items).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa "kỹ năng lắng nghe tích cực" như thế nào?

Tác giả định nghĩa kỹ năng lắng nghe tích cực là khả năng tập trung nghe người khác nói, ngừng suy nghĩ các vấn đề khác trong đầu, duy trì kết nối bằng cử chỉ phi ngôn ngữ; lắng nghe để thấu hiểu trọn vẹn nội dung và cảm xúc của người nói mà không phán xét, đánh giá theo định kiến cá nhân.

2. Cấu trúc bảng hỏi khảo sát gồm những phần nào và độ tin cậy ra sao?

Bảng hỏi gồm Phần A (Thông tin cá nhân: giới tính, năm học, ngành học) và Phần B (Nội dung khảo sát gồm 11 câu về Thái độ [$\alpha = 0{,}77$] và 16 câu về Hành vi [$\alpha = 0{,}82$], chia thành 3 khía cạnh: Sự tập trung 8 câu, Sự phản hồi 4 câu, Cử chỉ cơ thể 4 câu). Điểm đo lường theo thang Likert 4 mức độ.

3. Phương pháp quan sát được tổ chức với quy mô và tiêu chí nào?

Nghiên cứu tiến hành quan sát kín trên 23 sinh viên qua 4 buổi học các học phần chung, có sự hỗ trợ của quan sát viên phụ để đối chứng. Phiếu quan sát gồm 3 tiêu chí: Sự tập trung (8 biểu hiện), Sự phản hồi (7 biểu hiện) và Cử chỉ cơ thể (8 biểu hiện).

4. Tác giả đặt ra những giả thuyết nghiên cứu nào về sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên?

Tác giả đặt ra 3 giả thuyết: (1) Đa số sinh viên có kỹ năng lắng nghe tích cực ở mức khá - tốt; (2) Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kỹ năng lắng nghe tích cực theo giới tính, năm học và ngành học; (3) Sinh viên năm thứ 4 có kỹ năng lắng nghe tích cực cao hơn sinh viên năm thứ 1.

5. Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị nào?

Khóa luận đề xuất hai nhóm kiến nghị chính: (1) Đối với sinh viên, cần nâng cao ý thức tự rèn luyện các kỹ thuật tập trung, phản hồi và duy trì ngôn ngữ cơ thể tích cực; (2) Đối với Nhà trường và Khoa, cần tăng cường đưa nội dung kỹ năng lắng nghe tích cực vào các chuyên đề kỹ năng mềm và học phần nghiệp vụ sư phạm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phạm Thùy Linh là công trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc về kỹ năng lắng nghe tích cực của sinh viên sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra bảng hỏi ($N = 220$), quan sát hành vi ($N = 23$) và phỏng vấn chuyên gia, đề tài đã làm rõ thực trạng biểu hiện kỹ năng qua hai khía cạnh thái độ và hành vi. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn có giá trị cho việc nâng cao năng lực giao tiếp sư phạm, đồng thời đề xuất những kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện công tác đào tạo giáo viên trong tương lai.