CHƯƠNG I. TẠO BIEU TƯỢNG NHÂN VAT LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỎ THÔNG 1. Cơ sở lí luận của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử ở trường phố thông L. Cơ sở Triết học Nhận thức là sự phản ánh thé giới khách quan và quy luật của nó vào bộ não con người.
Khi thể giới bên ngoài tác động đến con người thì bộ óc cũng bắt đầu quá trình nhận thức, đó là cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm. Không có sự tác động của thể giới khách quan tới con người, không có bộ óc (sản phẩm cao nhất của vật chất) thi sẽ không xuất hiện bắt cứ quá trình nhận thức nào. Quá trình nhận thức của con người diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Hai giai đoạn này có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau, hợp thành con đường biện chứng của sự nhận thức, con đường này được Lênin chỉ ra rằng: “Tử trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng về thực tiễn, dé là can đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.
Như vậy, quá trình nhận thức luôn bat đầu từ sự nhận thức các sự vật, hiện tượng nhờ các giác quan. Đó là giai đoạn thứ nhất trong quá trình nhận thức, gọi là nhận thức cảm tính. Ở giai đoạn này, con người chỉ nhận thức được cái riêng lẻ, vẻ bề ngoài, cái hiện tượng của thé giới khách quan. Nhận thức cảm tính luôn mang dấu ấn chủ quan, hay nói như Lênin: "cảm giác đó chính là hình ảnh chủ quan của thể giới khách quan sẽ Hinh thức cơ bản của nhận thức cảm tinh là cảm giác #W.
Lễ]= nin, But ki triế học, t NXB Sự thật, HN,1977, tr 179 ®'V.1Lê = nin : toan tậ. p Tiên bộ, Maxcova T18 , tr 138 __—__—_—————————Dm———— ————————ễ II SVTH : Dinh Thị Phi Phụng GVHD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc Cảm giác là “quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta"”. Vậy, càm giác mang lại cho con người cảm giác đúng đắn về thế giới. Ở giai đoạn nhận thức cảm tính còn có tri giác và biểu tượng.
“Tri giác là quá trình tâm lý, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta”* Khác với cảm giác, tri giác không phản ánh từng mặt, từng dáng vẻ riêng lẻ của sự vật, hiện tượng mà phản ánh sự vật tổng thé các hình dạng, màu sắc, các vẻ bề mặt của sự vật và trong sự liên hệ lẫn nhau của các đáng vẻ, mặt bên ngoài đó. Khi tri giác các sự vật, hiện tượng, con người hiểu nó tương ứng với trình độ hiểu biết, vốn kinh nghiệm thực tiễn của mình và ghi nhớ chúng bằng từ ngữ. Con người luôn có xu hướng tìm thấy ở sự vật, hiện tượng mới gặp những nét tương đồng với sự vật, hiện tượng đã từng gặp, từng biết và tìm cách sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định nào đó. "Biểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng tạo ra từ quá trình cảm giác, tri giác trước đó và được lưu lại bằng trí nhớ trong ý thức của con người, trong một số trường hợp biểu tượng còn phản ánh mặt bên trong của sự vật, hiện tượng"? Biểu tượng có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức của con người.
Biểu tượng luôn có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, mọi khâu, từ cảm giác, tri giác đến tư duy và cả tưởng tượng.Biểu tượng tạo nên nội dung cơ bản của các kiến thức, kĩ năng và ki xảo, Nó là bậc thang kế tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến các khái niệm trừu tượng, là khung cửa dẫn cảm giác, tri giác sang lĩnh vực tư duy. Do mang tính chất biển đổi rộng rãi, biểu tượng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con người. Nhìn chung, nhận th cảm ứctính mang lại cho con người một bức tranh cụ thể. sinh động, phong phú, đa dạng, đầy màu sắc, âm thanh.
Nó không những giúp cho con người nhận thức thé giới khách quan mà còn giúp họ thích nghỉ với hoàn cảnh. ” Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Triết học Mác- Lê nin, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004, tr 301 * Bộ Giáo dục và Đào tạo. sđd, tr 301 ” Bộ Giáo dục và Đào tạo, sđd, tr 301 12 SVTH : Dinh Thị Phi Phụng GVHD: Th.S Đào Thị Mộng Ngọc Nhờ đó.
con người có thể tồn tại được. bức tranh cảm tính vẽ nên còn nhiều hạn chế và không đầy đủ. Muốn nhận thức được mặt bên trong, mặt bản chất của các sự vật hiện tượng, con người cần sử dụng đến sức mạnh tư duy trừu tượng, một bước chuyển về chất trong hoạt động nhận thực — nhận thức lí tính. “Tu duy là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết""? Tư duy nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính, cho ta biết các thuộc tính, bản chất quy luật các các sự vật, hiện tượng, những cái mà bằng giác quan, bằng nhận thức cảm tính, con người chưa thể biết được.
Trong quá trình phân tích, tổng hợp hiện thực, tư duy phản ánh một cách gián tiếp và khái quát hóa thé giới hiện thực. Chính vi thế, tư duy cho phép ta tìm hiểu sâu quá khứ xa xưa cũng như nhìn về tương lai. Hình thức cơ bản của tư đuy là khái niệm “Khái niệm là một hình thức nhận thức khoa học, trong đó vạch ra những mặt bản chất có tính quy luật nhất của hiện tượng, quá trình được vạch ra dưới dạng khái quát và được diễn tả bằng những lới phát biểu khúc chiết, rõ ràng"! Để đi đến khái niệm, sản phẩm cao nhất của tư duy, con người phải sử dụng các thao tác tư duy như : phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Tư đuy và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Ngôn ngữ phản ánh hiện thực thông qua tư duy và tư duy nằm trong ngôn ngữ, được phát triển, hoàn thiện trong quá trình rèn luyện, trau đổi về ngôn ngữ. Nhờ tư duy, nhận thức của con người về thế giới xung quanh day đủ hơn, chính xác hơn. Tuy nhiên, những hiểu biết do tư duy đem lại còn mang tính chủ quan của con người. Để kiểm tra mức độ chính xác của nhận thức, sản phẩm của tư duy phải đem vào sử dụng trong thực tiễn.
!° Bộ Giáo dục và Đào tạo, sđđ, tr 309 !' Bộ Giáo dục và Đào tạo, sdd, tư 413 13 SVTH : Dinh Thị Phi Phụng GVHD : Th.S Đào Thị Mộng Ngọc Tóm lại, quá trình nhận thức của con người gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Hai giai đoạn này không tách rời mà thống nhắt, bổ sung cho nhau dé con người nhận thức thé giới một cách đầy đủ, chính xác. Trong quá trình nhận thức, tư duy đóng vai trò quan trọng không thẻ thiếu, giúp con người hiểu sự vật, hiện tượng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thẻ xem thường nhận thức cảm tính bởi nó là cơ sở để tiến hành hoạt động tư duy.
Nhà giáo dục học J. Commexky đã từng khẳng định : “Không có gì hết trong trí não nễu trước đó không có gi trong cảm giác"'È.Usinxky cũng thừa nhận ; "Cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người"'”. Do đó, việc tạo biểu tượng cho học sinh đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt là việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử. Nó làm cho sự hiểu biết kiến thức lịch sử của học sinh càng cụ thể hơn, sống động hơn, từ đó, gây hứng thú hơn cho học sinh trong học tập lịch sử.
Cơ sở Sinh lí học Trong cuộc sống hằng ngày, con người luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng vô cùng da dang và phong phú. Các sự vật, hiện tượng tác động vào các giác quan của con người bằng các thuộc tính của mình như màu sắc, âm thanh, hình dáng, khối lượng, tính chất. Từ 46, trong đầu óc con người có được hình ảnh vẻ các thuộc tính của các sự vật, hiện tượng. Khi các thông tin về các thuộc tính của sự vật, hiện tượng có được nhờ cảm giác được chuyển tới vỏ não thì ngay lập tức chúng được tổ chức, sắp xếp tạo nên một hình ảnh đầy đủ có ý nghĩa về chính sự vật, hiện tượng đang tác động vào các giác quan của con người và con người có được cảm giác.
Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng nên nhận thức của con người. Học thuyết phản xạ của I.Pavlop đề cập trực tiếp đến vấn đề này. Qua quá trình nghiên cứu, Pavlop đã rút ra kết luận: phản xạ của con người là phản xạ có điều kiện (phản xạ được hình thành trong cuộc sống do luyện tập). Đồng thời, ông cũng chứng minh được quá trình nhận thức luôn luôn có hai hệ thống tín hiệu.
Hai hệ thếng tín `? Nguyễn Xuân Thức, Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB Đại học sư phạm, 2006, tr 97 ' Nguyễn Xuân Thức, sd, ư 104 14 SVTH : Dinh Thị Phi Phụng GVHD : Th.S Đào Thị Mộng Ngọc hiệu này không dién ra đồng thời mà diễn ra một cách tuần tự - cái trước, cái sau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống tín hiệu thứ nhất: lúc tín hiệu truyền đi còn dang cảm tính do trì giác thông qua hệ thống giác quan. Tín hiệu này có ở người và ở động vật, là hệ thống cơ sở cho hệ thống tín hiệu thứ hai. Hệ thống tín hiệu thứ hai: Qua quá trình tư duy mà khái quát hóa các thông tin nhận thức từ tín hiệu thứ nhất.
Hệ thống tín hiệu này được truyền đi đưới dạng lý tính là các khái niệm, quy luật. mang tính chủ quan. Hệ thống tín hiệu thứ hai biểu hiện cho khối lượng, chất lượng, độ bền của tri thức có liên quan chặt chẽ với hệ thống tí hiệu thứ nhắt (vì hệ thống tín hiệu thứ nhất sẽ quyết định chất lượng, khối lượng kiến thức). Từ học thuyết phản xạ của Pavlop, chúng ta thấy tim quan trọng của việc tao biểu tượng cho học sinh đặc biệt là biểu tượng về nhân vật trong dạy học lịch sử.
Từ việc quan sát (hình ảnh của nhật vật thông qua đồ dùng trực quan), tìm hiểu người that, việc thật, học sinh hiểu thêm được ý nghĩa cua các vấn đề lịch su.